vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 24/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày: 24/3/2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễ n Hữ u Hiế n

2. Bà Trần Thị Thanh Thủy.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Ông Trầ n Mạ nh Thắ ng - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2022/TLST-HS ngày 03/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST- HS ngày 11/3/2022 đối với bị cáo:

Trần Đức C, sinh ngày 10/6/1986. Tại: Thôn HT, xã B, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn HT, xã B, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Đình C, sinh năm 1957, là thương binh, được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công và Huân chương chiến sỹ vẻ vang và bà: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1963 ; Có vợ: Trần Thị Nh và có 01con sinh năm 2016.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Không;

Nhân thân: Từ nhỏ đi học hết lớp 9/12, sau đó ở nhà lao động tự do, là đối tượng nghiện ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2021 đến ngày 18/12/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

+ Người c hứng kiến:

- Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1964, trú tại thôn D, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và ông Nguyễn Ngọc Hưng, sinh năm 1960, trú tại thôn L, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ 15 phút ngày 15/12/2021, Trần Đức C đi nhờ xe máy của một người không quen biết từ xã B đến chân cầu Đình Thượng thuộc xã M với mục đích mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi, C xuống xe một mình gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, ngồi trên xe máy dừng ở chân cầu và hỏi “Còn Hê (tức Hêrôin) bán cho 200.000 đồng”, người này gật đầu đồng ý, C đưa cho người này 200.000 đồng và nhận lại 01 gói nhỏ ma túy. C cất gói ma túy trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm quầy thuốc tân dược để mua dụng cụ sử dụng ma túy. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, khi C đang đi bộ trên trục đường thôn Duy Tân, xã M thì tổ công tác Công an huyện Đông Hưng đang tuần tra, nghi nghờ C có liên quan đến ma túy nên yêu cầu C dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Vũ Văn Đông, sinh năm 1964, trú tại thôn Duy Tân, xã M và ông Nguyễn Ngọc Hưng, sinh năm 1960, trú tại thôn L, xã M, sau khi tổ công tác giải thích quyền lợi và nghĩa vụ, C đã tự giác lấy từ túi áo khoác bên trái đang mặc 01 gói ma túy được gói bằng giấy kim loại màu trắng giao nộp cho tổ công tác, kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, C khai nhận là Hêrôin mua về để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong quản lý số ma túy trong phong bì thư, sau đó dẫn giải C về trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đông Hưng lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Đức C, không phát hiện thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,1527 gam (Không phảy một nghìn năm trăm hai mươi bảy gam).

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSĐH ngày02/3/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo: Trần Đức C - Về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:

Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Đức C – Phạm tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Đức C đã thà nh khẩn khai báo hành vi phạm tội . Do đó , bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điể m s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bố bị cáo là thương binh, được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công và Huân chương chiến sỹ vẻ vang nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; 50; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trầ n Đứ c C từ 01 năm 6 tháng tù đến 01 năm 9 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung xét thấy: Bị cáo mua ma túy về sử dụng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

+Về vật chứng và tài sản thu giữ:

Heroine (Hêrôin) là vật phẩm cấm lưu hành. Do đó, đề nghị: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điề u 47 củ Bộ luật hình sự . Đề nghị : Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Hêrôin còn lại sau giám định có khối lượng 0,1331 gam.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[I[ Về tố tụ ng:

Trong quá trì nh điề u tra , truy tố cá c Điề u tra viên , Kiể m sá t viên đã tiế n hành thu thập các tài liệu , chứ ng cứ theo đú ng cá c quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng hình sự. Bị cáo không có khiế u nạ i, tố cá o. Do đó cá c tà i liệ u, chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n là hợ p phá p.

[II] Về nộ i dung:

[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Đức C đã khai nhận:

Do bạn bè rủ rê Trần Đức C đã nghiện ma túy từ năm 2018. Do đó , nên khoảng hơn 08 giờ ngày 15/12/2021, Trần Đức C từ xã B đến chân cầu Đình Thượng thuộc xã M để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, C đã gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, ngồi trên xe máy dừng ở chân cầu và hỏi “Còn Hê bán cho 200.000 đồng”, người này gật đầu, C đưa cho người này 200.000 đồng và nhận lại 01 gói nhỏ ma túy. C cất gói ma túy trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm quầy thuốc tân dược để mua dụng cụ sử dụng ma túy. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, khi C đang đi bộ trên trục đường thôn Duy Tân, xã M thì tổ công tác Công an huyện Đông Hưng đang tuần tra phát hiện bắt giữ.

Lời khai của bị cáo Trần Đức C phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an Đông Hưng lập hồi 10 giờ 15 phút ngày 15/12/2021 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đông Hưng cùng với lời khai của những người chứng kiến là ông Vũ Văn Đông, sinh năm 1964, trú tại thôn Duy Tân, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1960, trú tại thôn L, xã M, huyện Đông Hưng và bản kết luận giám định, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Đức C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

b) …

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi của bị cáo Trầ n Đứ c C là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyề n độ c quyề n quả n lí về ma tuý củ a nhà nướ c.

[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:

Với mức độ tà ng trữ 0,1527gam ma tuý là Heroine (Hêrôin) thì hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đức C thuộc trường hợp nghiêm trọ ng.

[3]+Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

[4]+Tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Đức C đã thà nh khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Bố bị cáo là thương binh, được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công và Huân chương chiến sỹ vẻ vang. Do đó , bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hì nh phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo mua ma tuý về sử dụng. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

Hêrôin là vật phẩm cấm lưu hành. Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Hêrôin còn lại sau giám định.

[7] Về án phí:

Bị cáo Trần Đức C phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáoTrần Đức C- Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

[2] Về áp dụng luật và hình phạt:

- Áp dụng Điể m c Khoả n 1 Điề u 249; Điều 38; 50; Điểm s Khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .

+Xử phạt bị cáo Trần Đức C 01 (mộ t) năm 06(sáu)tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2021.

[3] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Hêrôin có khối lượng 0,1331gam còn lại sau giám định, được đựng trong phong bì số 437/KLGĐ.

[4] Về án phí:

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Bị cáo Trần Đức C phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Cỡ chữ