- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS-ST Ngày 27/04/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn An
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Em
Ông Huỳnh Văn Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 03 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HS ngày 08/04/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, (tên gọi khác: T), sinh năm 1979, tại tỉnh Tiền Giang. Trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Kim H (đã chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1948; Anh chị em ruột có 08 người, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm 1986, (đã ly hôn); có 02 người con lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người bị hại: Anh Lê Thành T, sinh năm 1993 (đã chết).
Địa chỉ: Ấp 2, xã P, huyện C, tỉnh T.
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Văn K, sinh năm 1967 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp 2, xã P, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn M là công nhân bốc xếp đang làm thuê tại lò sấy lúa ở ấp 1, xã Mỹ Thành Bắc, huyện Cai Lậy, sau khi làm việc đến 12 giờ ngày 22/6/2021, M sang nhà anh Nguyễn Thành L kế bên lò sấy uống rượu, có nồng độ Al Col trong máu 383mg/100 ml, không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng khoảng 15 giờ 10 phút M điều khiển xe mô tô biển số 63V5-7194 lưu thông trên đường tỉnh lộ 865, hướng từ xã Thạnh Lộc đến xã Mỹ Phước Tây. Khi đến đoạn thuộc ấp 5B, xã Phú Cường, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang không làm chủ được tay lái để xe mô tô lấn sang trái đường đụng vào xe mô tô biển số 63B2-223.15 do Lê Thành T, sinh năm 1993, địa chỉ Ấp 2, xã P, huyện C, tỉnh T điều khiển đang lưu thông hướng ngược lại. Hậu quả, Lê Thành T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu, nhưng đã tử vong cùng ngày.
Vật chứng thu giữ gồm: Xe mô tô biển số 63V5-7194, xe mô tô biển số 63B2-223.15, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63V5-7194; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63B2-223.15; giấy phép lái xe hạng A1 tên Lê Thành T; giấy chứng M nhân dân tên Lê Thành T.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 84/PY-PC09 ngày 03/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, kết luận: Lê Thành T tử vong do gãy trượt đốt sống cổ.
Theo sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông đường bộ của Công an huyện Cai Lậy, xác định nơi xảy ra tai nạn: đường tỉnh 865 thuộc ấp 5B, xã Phú Cường, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Mặt đường nhựa, bằng phẳng, thẳng, rộng 6m, giữa có vạch kẻ đường, đứt quảng để phân chia làn đường. Làn đường xảy ra tai nạn là làn đường bên phải hướng lưu thông từ Mỹ Phước Tây về Thạnh Lộc. Chọn hướng lưu thông từ Mỹ Phước Tây về Thạnh Lộc làm hướng chuẩn. Chọn trụ điện số 42 nằm trong lề đường bên trái làm điểm chuẩn. Xe mô tô biển số 63V5-7194 do Nguyễn Văn M điều khiển lưu thông hướng từ Thạnh Lộc đến Mỹ Phước Tây, đến đoạn ấp 5B, xã Phú Cường, huyện Cai Lậy, M không làm chủ tay lái điều khiển xe sang làn đường ngược lại đụng vào xe mô tô biển số 63B2-223.15, điểm đụng giữa hai xe mô tô nằm trên làn đường bên phải so với hướng chuẩn có kích thước (0,5 x 0,5)m, có tâm cách mép chuẩn là 2,4m. Xe mô tô biển số 63B2-223.15 sau tai nạn nằm trên mặt đường, đầu xe quay về hướng Thạnh Lộc, có trục trước cách mép chuẩn theo đường thẳng là 2,85m, đuôi xe quay về hướng Mỹ Phước Tây, có trục sau cách mép chuẩn theo đường thẳng là 2,8m. Xe mô tô biển số 63V5-7194 để lại vết cày trên mặt đường bên phải so với hướng chuẩn và cách mép chuẩn là 1,8m, vết cày hướng về Mỹ Phước Tây chếch vào mép chuẩn dài 3,6m, điểm cuối vết cày trùng với lốc máy xe 63V5-7194 và cách mép chuẩn là 1,3m. Xe mô tô biển số 63V5-7194 ngã trên mặt đường đuôi xe chếch sang lề đường bên trái so với hướng chuẩn và có trục sau cách mép chuẩn là 1,6m, đầu xe chếch vào mép chuẩn và có trục trước cách mép chuẩn là 0,4m, yên xe quay về hướng Mỹ Phước Tây.
Kết quả khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông của Công An huyện Cai Lậy xác định:
Xe mô tô biển số 63V5-7194 có các dấu vết sau:
Ốp bảo vệ cổ lái, ốp bảo vệ đồng hồ km bị vỡ rời khỏi xe;
Đồng hồ hiển thị km rời khỏi vị trí ban đầu còn dính lại dây điện;
Đèn chiếu sáng gần, xa và đèn báo rẽ bên phải, bên trái bị nứt vỡ rời khỏi xe;
Kính chiếu hậu bên trái bị bể hoàn toàn rời khỏi xe;
Ốp bảo vệ cổ lái phía trước (mặt nạ) bằng nhựa sơn màu xanh bị nứt vỡ trầy xước kích thước (22 x 30)cm;
Chắn bùn bánh xe phía trước bị bể rời khỏi xe;
Yếm xe phía trước bên phải (bửng) bằng nhựa màu xanh bị nứt vỡ rời khỏi xe;
Yếm xe phía trước bên trái (bửng) bằng nhựa màu xanh bị nứt vỡ nhiều đường phức tạp có một số mãnh vở rời khỏi xe;
Ốp bảo vệ bộ phận giảm sóc bên phải bên trái của bánh xe phía trước bị vỡ rời khỏi xe;
Bộ phận giảm sóc phía trước bên phải bằng kim loại bị đẩy chiều hướng từ trước về sau, có 2 vết mài mòn trầy xước, vết thứ nhất có kích thước (7 x 3)cm, vết thứ hai tại vị trí bu long có kích thước (3 x 2,5)cm;
Vành xe bị thụn móp chiều hướng từ ngoài vào trong biến dạng phức tạp, các nan hoa bị gãy lốp xe và ruột xe bị xì hết hơi;
Móc treo phía trước bên phải bằng kim loại màu trắng bị cong đẩy chiều hướng từ trước về sau và có vết mài mòn kích thước (5 x 4)cm;
Gác chân phía trước bên phải bằng kim loại bị đẩy chiều hướng từ trước về sau không có thổi cao su;
Phanh chân bằng kim loại bị đẩy chiều hướng từ trước về sau;
Giá bắt gác chân phía sau bằng kim loại bên phải bị gãy, phần bị gãy dính vào ống xả và càng xe;
Mặt ngoài ống xả bằng kim loại màu trắng bị thụn móp và vết bám cao su màu đen hơi mờ có kích thước (26 x 4)cm;
Tay dắt phía sau bên phải bằng nhựa màu đen bị mài mòn kích thước (30 x 3.5)cm;
Chắn bùn phía sau bằng nhựa màu đen và giá bắt biển số bị gãy rời khỏi xe.
Xe mô tô biển số 63B2-223.15 có các dấu vết sau:
Ốp bảo vệ đèn chiếu sáng gần, xa bằng nhựa trong suốt bị trầy xướt kéo dài không liên tục kích thước (40 x 8)cm trên nền trầy xướt có vết dính sơn màu xanh kích thước (7 x 4)cm;
Ốp bảo vệ cổ lái bằng nhựa sơn màu xanh bị nứt vỡ, trầy xướt nhiều đường phức tạp kéo dài từ yếm xe bên phải đến yếm xe bên trái diện rộng kích thước (42 x 34)cm trong đó phần bên phải cổ lái bị nứt vỡ rời khỏi xe;
Chắn bùn phía trước bằng nhựa sơn màu xanh bị nứt vỡ và trầy xướt kéo dài không liên tục kích thước (40 x 23)cm trên nền trầy xướt có vết bám sơn màu xanh nằm rải rác hơi mờ;
Ốp bảo vệ bộ phận giảm xốc bên phải bị vỡ rời khỏi xe;
Bộ phận giảm xốc phía trước bên phải bằng kim loại có vết trầy xước kéo dài không liên tục kích thước (18 x 4)cm;
Vành xe bằng kim loại của bánh xe trước bị thụn móp có chiều hướng từ ngoài vào trong kích thước (30 x 1,5)cm, thụn sâu vào trong 2 cm, trên nền thụn móp có dính vết sơn màu xanh kích thước (1,5 x 0,7)cm;
Lốp xe của bánh xe phía trước bên phải bằng cao su bị rách kích thước (3 x 1,5)cm;
Yếm xe phía trước bên phải bằng nhựa bị nứt vỡ rời khỏi xe;
Trên máy xe bên phải dính mãnh vỡ bằng nhựa màu xanh có kích thước (30 x 8)cm;
Gác chân phía trước bên phải bằng kim loại bị cong chiều hướng từ trước về sau không có thổi cao su;
Phanh chân bên phải bằng kim loại bị lệch chiều hướng từ trước về sau;
Ốp bảo vệ ống xả bằng kim loại màu trắng bị trầy xướt thụn móp kích thước (8 x 4)cm;
Gác chân phía trước bên trái bị cong đẩy chiều hướng từ trước về sau không có thổi cao su.
Phiếu xét nghiệm Al Col máu tại Trung tâm y tế huyện Cai Lậy của Nguyễn Văn M vào ngày 22/6/2021 là 383mg/100 ml máu.
Xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển số 63B2-223.15, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63B2-223.15; giấy phép lái xe hạng A1 tên Lê Thành T; giấy chứng M nhân dân tên Lê Thành T, đã trao trả cho ông Lê Văn K là cha ruột của anh T.
Vật chứng còn tạm giữ: Xe mô tô biển số 63V5-7194, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63V5-7194.
Trách nhiệm dân sự: Lê Văn K yêu cầu Nguyễn Văn M bồi thường chi phí mai táng và các khoản chi phí khác số tiền 40.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường được 29.000.000 đồng, còn lại 11.000.000 đồng bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường.
Lỗi được xác định do Nguyễn Văn M đã uống rượu trong máu có nồng độ cồn và không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô không đi bên phải theo chiều đi của mình, vi phạm tại khoản 6 Điều 5 của Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia; khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ.
Trong quá trình điều tra Nguyễn Văn M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSHCL ngày 15/03/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố Nguyễn Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã đưa ra những chứng cứ chứng M hành vi phạm tội của bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo một xe mô tô biển số 63V5-7194, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63V5-7194.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 591, 357 của Bộ luật dân sự, ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường tiếp số tiền 11.000.000 đồng cho ông Lê Văn K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm Nguyễn Văn M khai nhận: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 22/6/2021, sau khi đã uống rượu say có nồng độ Al Col 383mg/100 ml máu và không có giấy phép lái xe theo quy định, Nguyễn Văn M điều khiển xe mô tô biển số 63V5-7194 lưu thông trên tỉnh lộ 865, khi đến đoạn ấp 5B, xã Phú Cường, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, M điều khiển xe mô tô không đi đúng bên phần đường quy định nên đụng vào xe mô tô biển số 63B2-223.15 do Lê Thành T điều khiển lưu thông hướng ngược lại, hậu quả làm Lê Thành T tử vong. Lời khai nhận trên của bị cáo phù hợp với hiện trường còn để lại sau vụ tai nạn, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố Nguyễn Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại đến tính mạng của công dân. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do bị cáo không có giấy phép láy xe, khi tham gia giao thông đã uống rượu, trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định nên không làm chủ được tay lái đã để xe mô tô lấn sang trái đường đụng vào xe mô tô của anh Lê Văn Tân đang lưu thông hướng ngược lại, hậu quả làm anh T tử vong. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 63V5-7194 và giấy đăng ký xe mô tô biển số 63V5-7194, đây là tài sản của bị cáo nên trả lại.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra ông Lê Văn K là người đại diện hợp pháp của anh T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 40.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường được 29.000.000 đồng, còn lại 11.000.000 đồng bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường tiếp cho ông Lê Văn K số tiền 11.000.000 đồng.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo một xe mô tô biển số 63V5-7194, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63V5-7194.
4. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 591, 357 của Bộ luật dân sự, ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn M tự nguyện bồi thường cho ông Lê Văn K số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).
Kể từ ngày ông Lê Văn K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Văn M chậm thi hành còn phải chịu thêm khoản tiền lãi, tính theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND Cai Lậy; - CCTHADS Cai lậy; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn An |