- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn H phạm Tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS-ST Ngày 17-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quàng Văn Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Công Thành
Ông Lò Đức Toản
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Viên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2021/HSST ngày 22 tháng 12 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vì Văn H; Sinh ngày 25/9/1991 tại huyện B, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: bản L, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Vì Văn L, sinh năm 1966 và bà Lường Thị P, sinh năm 1970; Bị cáo có vợ Lò Thị X, sinh năm 2004 và có 01 con 02 tuổi, hiện nay đều cư trú tại bản L, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 14/10/2021 bị UBND xã P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện và sử dụng ma túy trái phép, thời hạn 03 tháng; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam giữ từ ngày 26/10/2021 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-BY ngày 22 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Vì Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/10/2021, Vì Văn H một mình đi bộ từ nhà tại bản L, xã P, huyện B xuống bến thuyền bản L, xã P bắt thuyền khách của ông Vì Văn N đi bến thuyền T, thuộc xã C, huyện M để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân nghiện hút. Đến nơi, H đi bộ về hướng bản S, xã C, huyện M, đi được khoảng 01km thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đứng một mình cạnh 01 chiếc xe máy không có biển kiểm soát, Hải đến hỏi và mua được 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua bán ma túy xong người đàn ông đi đâu, làm gì H không biết, H cầm 02 gói ma túy vừa mua được đi bộ quay về bến thuyền T để bắt thuyền về nhà, đi được một đoạn H rẽ vào cạnh đường lấy chiếc bật lửa và mảnh giấy bạc đã chuẩn bị và mang theo người ra rồi tách một ít ma túy trong 01 gói giấy màu trắng ra cho vào mảnh giấy bạc sử dụng cho bản thân bằng hình thức đốt hít, nhưng ngay lúc này thấy có người đi lại qua đường, lo sợ bị phát hiện nên H gói số ma túy chưa sử dụng hết trong mảnh giấy bạc lại và gói ma túy trong gói giấy màu trắng đã tách ma túy ra, cất 03 gói ma túy vào túi quần bên phải đang mặc đi bắt thuyền về bến thuyền bản L, xã P để về nhà. Sau khi đến bến thuyền bản L, xã P, H đi bộ về nhà thì bị tổ công tác Công an huyện B kiểm tra, bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 02 gói giấy màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine; 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine .
Ngày 27/10/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân tịnh số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Vì Văn H. Kết quả như sau:
Số chất bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ nhất có khối lượng 0,14 gam, số chất bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ hai có khối lượng 0,07 gam, số chất bột màu trắng trong gói giấy bạc màu trắng có khối lượng 0,05 gam. Tổng khối lượng chất bột màu trắng thu giữ là 0,26 gam. Cơ quan CSĐT Công an huyện B niêm phong vật chứng lấy mẫu ký hiệu H1, H2, H3 và ra Quyết định trưng cầu giám định số 46, trưng cầu Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La giám định.
Ngày 01/11/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ban hành bản Kết luận giám định số 1614, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H1, H2, H3 đều là ma túy, loại Heroine; Khối lượng của các mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là 0,14 gam, H2 là 0,07 gam, H3 là 0,05 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,26 gam, loại Heroine”.
Vật chứng còn lại của vụ án: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành được niêm phong theo quy định. Bên trong gồm: 02 mảnh giấy màu trắng, 01 mảnh giấy bạc màu trắng gói vật chứng và 01 vỏ phong bì đã bóc mở.
Đối với nguồn gốc ma túy bị cáo Vì Văn H khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông, bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, do vậy không có căn cứ xử lý đối với người này.
Đối với ông Vì Văn N là người cho H đi thuyền nhưng ông N hoàn toàn không biết hành vi phạm tội của Vì Văn H, do đó không có căn cứ xử lý.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa công khai, bị cáo Vì Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vì Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vì Văn H mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành; 02 mảnh giấy màu trắng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng gói vật chứng và 01 vỏ phong bì đã bóc mở.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Ý kiến của bị cáo Vì Văn H tự bào chữa: bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn tiền án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vì Văn H thừa nhận, do bản thân nghiện ma túy nên ngày 26/10/2021 Vì Văn H đã có hành vi mua 0,26 gam Heroine với số tiền 100.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, tại bản S, xã C, huyện M, mục đích mua về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy Vì Văn H đi bộ quay về bến thuyền T để bắt thuyền về nhà. Sau khi đến bến thuyền bản L, xã P, H đi bộ về nhà thì bị phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định vật chứng của vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vì Văn H đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh quy định điểm c khoản 1 tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamin, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1 gam đến dưới 5 gam...” .
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ hiểu biết để nhận thức được hành vi của mình làm là vi phạm pháp luật, hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội của địa phương. Nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có 01 tiền sự: Ngày 14/10/2021 bị UBND xã P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện và sử dụng ma túy trái phép, thời hạn 03 tháng, mặc dù đã được áp dụng giáo dục tại xã nhưng bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tòa cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì bị cáo sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và am hiểu pháp luật còn nhiều hạn chế.
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm và nhân thân của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời nhằm dăn đe, giáo dục chung, đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng chống các hành vi tương tự xảy ra ở địa phương hiện nay.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, không có thu nhập, không có tài sản riêng có giá trị lớn. Vì vậy Tòa cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành; 02 mảnh giấy màu trắng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng gói vật chứng và 01 vỏ phong bì đã bóc mở là của bị cáo dùng thực hiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Quyết định 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, thì bị cáo Vì Văn H là người dân tộc thiểu số sinh sống tại bản L, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La là bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Gia đình bị cáo Vì Văn H là hộ nghèo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vậy Tòa cần xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tuyên bố bị cáo Vì Văn H phạm Tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vì Văn H 26 ( Hai mươi sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2021.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vì Văn H.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành; 02 mảnh giấy màu trắng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng gói vật chứng và 01 vỏ phong bì đã bóc mở.
(Chi tiết theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản của vụ án giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B ngày 22/12/2021).
3. Về Án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn H.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định chung của pháp luật.
| Nơi nhận: -Toà án tỉnh Sơn La; -VKSND-B; -Công an-B; -Bị cáo; -Trại giam-Sơn La; -Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; -Chi cục THADS-B; -THA.Hình sự; -Lưu hồ sơ - Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Quàng Văn Thủy |