- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Seo S và đồng phạm - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện BH về phần hình phạt như sau:
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS-PT Ngày 11-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phi Long
Các Thẩm phán: Ông Vũ Minh Quán và ông Png Lâm Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Hải Đăng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 11/5/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 08/2022/TLPT-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Giàng Seo S và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 16/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện BH, tỉnh Lào Cai.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Giàng Seo S (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 12/6/1993, tại huyện BH, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn LĐ, xã CL, huyện BH, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Mông; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.
Con ông Giàng Seo Ch, sinh năm 1969 và bà Lù Thị M, sinh năm 1968. Bị cáo có vợ là Tráng Thị D, sinh năm 1994 và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Giàng Seo C (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 01/9/1998, tại huyện BH, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn LĐ, xã CL, huyện BH, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.
1
Con ông Giàng Seo T1, sinh năm 1962 và bà Sùng Thị K, sinh năm 1968. Bị cáo có vợ là Thào Thị Đấu, sinh năm 2000 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2018.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
3. Giàng Seo C1 (Tên gọi khác: Giàng Seo P) - Sinh ngày 20/11/1991, tại huyện BH, tỉnh Lào Cai
Nơi cư trú: Thôn LĐ, xã CL, huyện BH, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2017 bị Hạt kiểm lâm huyện BH xử phạt hành chính về hành vi Vận chuyển lâm sản trái pháp luật (đã chấp hành xong, coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính)
Con ông Giàng Seo T, sinh năm 1962 và bà Sùng Thị K, sinh năm 1968. Bị cáo có vợ là Tráng Thị T2, sinh năm 1992 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
4. Giàng Seo V (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 30/9/1993, tại huyện BH, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn LĐ, xã CL, huyện BH, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Mông; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2014 bị T a án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán người (đã chấp hành xong, được xóa án tích)
Con ông Giàng Seo V, sinh năm 1961 và bà Lù Thị P, sinh năm 1962. Bị cáo chung sống như vợ chồng với Sùng Thị M, sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2021.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Ngoài ra còn có các bị cáo Vàng Seo S, Giàng Seo V, Vàng Seo Ph, Vàng Seo S1, Giàng Seo L không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.
- Người bào chữa cho các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo V: Bà Đỗ Thị Ng, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Giàng Seo C1, Giàng Seo C: Ông Hà Thanh Q, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ban quản lý rừng phòng hộ huyện BH, tỉnh Lào Cai
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Văn M1 - Chức vụ: Trưởng ban quản lý rừng ph ng hộ huyện B c Hà. Có mặt.
- Người phiên dịch: Bà Giàng Thị Pằng. Địa chỉ: Số 007 phố TT, phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào ngày thứ sáu (không nhớ ngày) giữa tháng 5 năm 2021, Giàng Seo S, Giàng Seo V, Giàng Seo C và Giàng Seo C1 (tên gọi khác Giàng Seo P , cùng trú tại thôn LĐ, xã CL, huyện BH gặp nhau tại quán nước của gia đình C1. Tại đây S rủ đi tìm cây gỗ nghiến c t làm thớt bán được tiền sẽ chia đều cho nhau, mọi người đồng ý. C nói đi khai thác cây gỗ Nghiến ở khu rừng tự nhiên phòng hộ thuộc thôn LĐ, xã CL, huyện BH, S, V và C1 đều biết cây gỗ đó nên đồng ý. Ngày thứ bảy, S cầm dao rựa, C cầm dây vải cùng C1 và V đi lên vị trí cây gỗ nghiến đã chọn rồi cùng nhau chặt một số cây gỗ tạp nhỏ, b c thành 01 giàn giáo phía ta luy dương ở gốc cây Nghiến và cùng nhau thống nhất ngày hôm sau (chủ nhật) sẽ đi khai thác cây Nghiến. Sáng chủ nhật (không nhớ ngày), S mang theo 01 cưa tay bằng kim loại rồi cùng với C, V và C1 lên vị trí cây Nghiến đã b c giáo, thay nhau cưa một đường ngang thân cây, ngay phía trên vị trí b c giàn giáo, sâu vào trong thân cây 45cm, sau đó mở tiếp một đường cưa hình vòng cung phía trên đường cưa thứ nhất, theo chiều từ trên xuống dưới, từ ngoài vỏ cây vào thân dài 136cm, sâu qua lớp vỏ nhưng cưa cùn nên dừng lại và đi về nhà C. Tại đây, C liên lạc với Vàng Seo S ở cùng thôn mượn cưa máy, S biết rõ C mượn cưa máy để c t gỗ nghiến trái phép bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đã xin đi cùng, S nói không có cưa máy nhưng sẽ đi mượn được thì C đồng ý và thống nhất đến ngày thứ ba cùng nhau đi c t vì hôm đó là ngày chợ phiên xã CL, mọi người đi chợ sẽ ít người qua lại, thuận lợi cho việc dùng cưa máy để khai thác. Sau đó, S sang nhà mượn cưa máy chạy bằng xăng của Giàng Seo V trú cùng thôn, V biết S mượn cưa máy để khai thác gỗ nghiến trái phép, V cho mượn và xin tham gia cùng thì được S đồng ý. C, S, V thống nhất khi mọi người đi cưa c t cây nghiến thì C1 ở nhà cảnh giới tại đầu đường, khi phát hiện lực lượng kiểm lâm thì báo cho mọi người.
Đến sáng thứ ba, S, C, V đi lên vị trí cây gỗ nghiến, C1 ở nhà cảnh giới, S và V cầm theo cưa máy đi lên vị trí cây nghiến theo chỉ dẫn của C. Trên đường đi S, V gặp Vàng Seo Ph, Giàng Seo L và Vàng Seo S1, cùng trú tại thôn LĐ, xã CL biết S, V đi cưa cây gỗ nghiến nên S, P và L xin tham gia thì được S, V đồng ý. Tới vị trí cây Nghiến, V bảo L ra khu vực đồi cây quế cách khoảng 01 km để cảnh giới, rồi V cầm cưa trèo lên dàn giáo và cùng S thay nhau c t vào giữa thân cây gỗ Nghiến gần vị trí đã cưa từ trước. Trong lúc S, V cưa c t gỗ thì C cầm thước đứng chờ, còn V, P, S1, S ngồi bên dưới gốc cây quan sát và cảnh giới. Sau khi c t được hai cục gỗ hình tam giác, C dùng thước để vanh, đo mỗi cục có đường kính khoảng 30cm, độ dày cục thứ nhất khoảng 14 cm, cục thứ hai 24 cm, sau đó V và S mỗi người bê một cục đi cất giấu. C t xong hai cục gỗ thì cưa máy bị hỏng, V sửa để tiếp tục c t cây gỗ nghiến thì lúc này C1 điện cho C báo có lực lượng Kiểm lâm đi kiểm tra, C thông báo cho mọi người biết và tất cả đi về nhà.
Hai ngày sau, S, V, V, P, C đi lấy 02 cục gỗ Nghiến đã cất giấu về nhà P, thống nhất bán với giá 560.000 đồng (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng) cho P, khi nào P bán được gỗ sẽ chia tiền cho mọi người. Sau đó, P mượn cưa máy của V c t 02 cục gỗ c t được 06 cái thớt có đường kính 30 cm, dày từ 05 cm đến 06 cm cho vào bao tải buộc chặt vào xe máy của gia đình P mang đi chợ Km 34 xã Phong Niên, huyện Bảo Th ng, tỉnh Lào Cai bán cho một người không quen biết được 640.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng). Về nhà P chia cho S, C, C1, V mỗi người 60.000 đồng (Sáu mươi nghìn đồng); chia cho S, Sây, V, L mỗi người 55.000 đồng (Năm mươi lăm nghìn đồng), riêng P giữ 180.000 đồng (Một trăm tám mươi nghìn đồng); số tiền trên các bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi bán gỗ cho P thì V, C, S và C1 tiếp tục rủ nhau đi cưa c t cây gỗ Nghiến. C, V đến nhà S lấy cưa rồi cùng S đi trước. Đến nơi, mọi người thay nhau cưa c t cây Nghiến ở vị trí hở mà trước đó đã cưa c t. C1 đi sau, đến nơi quan sát thấy cây Nghiến hở to và nghe thấy tiếng lách cách, biết là cây s p đổ nên bảo tất cả dừng lại không cưa tiếp và đi về nhà. Ngày 30/5/2021, Trạm kiểm lâm địa bàn xã CL cùng tổ bảo vệ rừng đi kiểm tra phát hiện cây Nghiến bị đổ nên báo cáo Hạt kiểm lâm huyện BH giải quyết theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 11/KLGĐ-SNN ngày 12 tháng 7 năm 2021 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai kết luận: Cây gỗ bị khai thác trái phép là cây gỗ Nghiến, được đánh số ký hiệu 27 theo Quyết định số 61/QĐ-SNN, ngày 25/3/2020 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai về việc phê duyệt phương án quản lý bảo vệ rừng có cây gỗ nghiến, gỗ trai xã CL, huyện BH năm 2020. Cây gỗ Nghiến có vị trí tại khu vực rừng tự nhiên phòng hộ thuộc lô 62, khoảnh 1, Tiểu khu 165 thôn LĐ, xã CL, huyện BH, tỉnh Lào Cai do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện BH là chủ quản lý. Căn cứ Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ xác định cây gỗ Nghiến thuộc nhóm IIA, thực vật rừng chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặt chẽ, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 15,208 m3.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 16/KL ngày 14/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện BH kết luận: Cây gỗ nghiến nhóm IIA bị khai thác trái pháp luật tại rừng thuộc lô 62 khoảnh 1, tiểu khu 165 thôn LĐ, xã CL, huyện BH, trị giá tại rừng là 11.500.000 đồng/01m3. Tổng khối lượng 15,208 m3 có trị giá 174.892.000 đồng (Một trăm bảy mươi tư triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Tại bản kết luận giám định số 15/KLGĐ-SNN ngày 07/10/2021 của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai kết luận đối tượng giám định: Tại vị trí bị đối tượng c t, tách lấy đi có chiều dài 44cm, đường kính thân cây tại vị trí bị c t, tách lấy đi là 83cm, phần gỗ bị cưa c t, lấy đi chiếm tỷ lệ 1/4. Phần gỗ bị cưa c t, tách khỏi thân cây lấy đi có khối lượng là 0,059m3.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 19/KL ngày 08/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện BH kết luận: Phần gỗ bị lấy đi, để lại thân cây gỗ nghiến một khoảng trống hình tam giác, khối lượng là 0,059m3, tại rừng có trị giá 678.500 đồng (Sáu trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm đồng.
Bản án sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 16/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện BH, tỉnh Lào Cai đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo: Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, tên gọi khác: Giàng Seo Páo, Giàng Seo V, Vàng Seo S, Giàng Seo V, Vàng Seo Ph, Vàng Seo S1, Giàng Seo L về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 232, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,b, c khoản 2, Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án đối với các bị cáo: Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, tên gọi khác: Giàng Seo Páo, Giàng Seo V
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 232, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, điểm a, b khoản 1 Điều 47, khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm a,b, c khoản 2, Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án đối với các bị cáo: Vàng Seo S, Giàng Seo V, Vàng Seo Ph, Vàng Seo S1, Giàng Seo L.
- Xử phạt bị cáo Giàng Seo S 02 (hai) năm 06 (sáu tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị b t đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Giàng Seo C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị b t đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Giàng Seo C1, tên gọi khác: Giàng Seo Páo 02 (hai năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị b t đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Giàng Seo V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị b t đi thi hành án.
- Xử phạt các bị cáo Vàng Seo S, Giàng Seo V, Vàng Seo Ph, Vàng Seo S1, Giàng Seo L, mỗi bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo.
Ngày 28/2/2022, các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện BH về phần hình phạt đối với các bị cáo.
Bên cạnh đó, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định UBND tỉnh Lào Cai là bị hại, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện BH là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng, việc bản án tuyên truy thu số tiền 70.000 đồng của bị cáo Vàng Seo Ph nộp ngân sách nhà nước cũng không chính xác vì bị cáo P đã cùng các bị cáo khác bồi thường toàn bộ thiệt hại. Đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm về phần xác định tư cách tham gia tố tụng của Ban quản lý rừng phòng hộ, không truy thu số tiền 70.000 đồng của bị cáo Vàng Seo Ph nộp ngân sách nhà nước.
Người bào chữa cho các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo V, bà Đỗ Thị Ngọc phát biểu quan điểm bào chữa: Đề nghị HĐXX xem xét nhân thân, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho các bị cáo được hưởng án treo.
Người bào chữa cho các bị cáo Giàng Seo C1, Giàng Seo C, ông Hà Thanh Quang phát biểu quan điểm bào chữa: Mức hình phạt bản án sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là nghiêm kh c, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho các bị cáo được hưởng án treo.
Người đại diện theo pháp luật của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện BH, ông Lương Văn Minh trình bày ý kiến: Nhất trí với bản án sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 16/02/2022 của TAND huyện BH, tỉnh Lào Cai. Đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về vấn đề này. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm P hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên t a sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ của vụ án. Vì vậy có đủ căn cứ để xác định: Vì mục đích bán gỗ kiếm lời, trong tháng 5 năm 2021, các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo V, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V, Vàng Seo S, Vàng Seo Ph, Giàng Seo L và Vàng Seo S1 đã cùng nhau khai thác trái phép 01 cây gỗ Nghiến tại khu vực rừng tự nhiên phòng hộ thuộc lô 62, khoảnh 1, Tiểu khu 165 thôn LĐ, xã CL, huyện BH, tỉnh Lào Cai do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện BH là chủ quản lý. Khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 15,208 m3, có trị giá 174.892.000 đồng (Một trăm bảy mươi tư triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng), thuộc loại thực vật nhóm IIA theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” với tình tiết định khung là “Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 15 mét khối (m3) đến dưới 30 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 10 mét khối (m3) đến dưới 20 mét khối (m3) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA”. Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của các bị cáo
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng được pháp luật bảo vệ.
Trong vụ án trên, bị cáo Giàng Seo S là người khởi xướng, rủ các bị cáo Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V cùng tham gia khai thác gỗ trái phép và tích cực thực hiện hành vi khai thác gỗ trái phép nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Các bị cáo Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V sau khi được bị cáo S rủ rê đã cùng S chuẩn bị giàn giáo, phương tiện để cưa c t cây gỗ, trực tiếp tham gia vào việc cưa c t cây gỗ, nên là đồng phạm với vai trò là người thực hành tích cực. Các bị cáo Vàng Seo S, Giàng Seo V, Vàng Seo Ph, mặc dù biết các bị cáo S, C, C1, V đi khai thác gỗ trái phép nhưng vẫn xin đi cùng và cùng thực hiện viêc khai thác gỗ trái phép nên là đồng phạm với vai trò thực hành. Các bị cáo Giàng Seo L, Vàng Seo S1 đi cùng các bị cáo khác để thực hiện nhiệm vụ cảnh giới nên là đồng phạm với vai trò là người giúp sức.
Về nhân thân, các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo Giàng Seo C1 có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi Vận chuyển lâm sản trái pháp luật năm 2017 (hiện coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính), bị cáo Giàng Seo V có nhân thân xấu, năm 2014 bị T a án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 5 năm tù về tội Mua bán người (đã được xóa án tích).
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo V, Giàng Seo C1 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đều có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, kh c phục hậu quả sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét về nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên để quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo. Quá trình xét xử phúc thẩm, các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V đều không xuất trình được thêm tài liệu, chứng cứ mới để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử nhận định, bị cáo Giàng Seo S là người khởi xướng, các bị cáo Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V đều là những người thực hành tích cực trong vụ án. Sau khi đã xẻ được hai cục gỗ Nghiến và mang bán kiếm lời, thay vì dừng việc thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo S, C, C1, V vẫn tiếp tục đi cưa c t cây gỗ Nghiến để mang bán. Hành vi của các bị cáo là coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Vì vậy, bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện BH xử phạt bị cáo Giàng Seo S 02 (hai) năm 06 (sáu tháng tù, xử phạt các bị cáo Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V, mỗi bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù là P hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và phát huy được tính răn đe, ph ng ngừa chung. Kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về việc Tòa án nhân dân huyện BH xác định UBND tỉnh Lào Cai là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, xét thấy việc đưa UBND tỉnh Lào Cai vào tham gia tố tụng trong vụ án là thừa. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện BH rút kinh nghiệm trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc xác định lại tư cách tham gia tố tụng của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện BH, Hội đồng xét xử xét thấy: Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản là tội không có bị hại, khách thể của tội phạm này là các quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được pháp luật bảo vệ. Bên cạnh đó, số tiền các bị cáo bồi thường thiệt hại được nộp vào ngân sách nhà nước, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện BH không phải người được hưởng số tiền này. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định Ban quản lý rừng phòng hộ huyện BH là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đúng quy định pháp luật, không có căn cứ xác định lại tư cách tham gia tố tụng của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện BH.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm theo hướng không truy thu số tiền 70.000 đồng của bị cáo Vàng Seo Ph, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, tuy nhiên số tiền truy thu không lớn, bị cáo P không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị về việc Tòa án truy thu số tiền này, do đó không cần sửa bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân huyện BH nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Về ý kiến của những người bào chữa cho các bị cáo: Xét thấy hình phạt cấp sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là P hợp, việc người bào chữa đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo là không có căn cứ nên không chấp nhận.
Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện BH về phần hình phạt như sau:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 232, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1 (Giàng Seo Páo), Giàng Seo V phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Xử phạt bị cáo Giàng Seo S 02 (hai năm 06 (sáu tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị b t đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Giàng Seo C 02 (hai năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị b t đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Giàng Seo C1, tên gọi khác: Giàng Seo Páo 02 (hai năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị b t đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Giàng Seo V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị b t đi thi hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Giàng Seo S, Giàng Seo C, Giàng Seo C1, Giàng Seo V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh; - CQTHAHS CA H. BH; - CQCSĐT CA H. BH; - TAND H. BH; - VKSND H. BH; - Chi cục THADS H. BH; - Bị cáo; NBC; - Người QLNVLQ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Phi Long |