- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Thảo T (giới tính: nữ), sinh ngày 13/11/2018 từ bà Trần Thị Thu T sang ông Nguy…"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15-04-2022 “V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đông.
2. Bà Thái Ánh Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 04 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 03 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1997
Địa chỉ: Ấp Q, xã H, huyện Đ, thành phố C.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1999
Địa chỉ: Khu vực T, phường L, quận N, thành phố C.
Tất cả đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 09/02/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông và bà Trần Thị Thu T được Tòa án giải quyết ly hôn tại Quyết định số 33/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quyết định về con chung đã giải quyết giao con chung cháu Nguyễn Thị Thảo T, sinh ngày 13/11/2018 cho bà T nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Nhưng sau khi ly hôn thì bà T không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con mà đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh và để cháu T ở nhà cho bà Ngoại chăm sóc nhưng hiện bà đã lớn tuổi và có bệnh nên việc chăm sóc cháu khó khăn và bé thường hay bị bệnh, sức khỏe không tốt, do vậy ông thường phải chở bé đi khám bệnh trong khi nhà ông cách nhà Ngoại cháu khoảng 15km nên việc chăm sóc gặp khó khăn. Sau khi ly hôn trung bình mỗi tháng ông đến thăm con khoảng 4,5 lần và các lần đến thăm đều có gửi sữa, tiền để phụ giúp nuôi con; ngoài ra, trung bình mỗi tháng ông chở con về nhà chơi được 02 lần, mỗi lần không được quá 03 ngày. Ông thừa nhận ngày 15/02/2022, ông đến nhà bà T để rước con về nhà ông chơi thì gặp chồng của T đang uống rượu nên lo ngại việc con ở với cha dượng sẽ không tốt cho bé nên ông chưa đưa con về lại nhà bà T.
Mặc khác, hiện bà T có chồng và đang phải nuôi con nhỏ nên việc chăm lo cháu T không được chu đáo, mọi việc chăm sóc con phải dồn hết cho bà Ngoại và hiện nay bà T lại không có việc làm tạo nguồn thu nhập. Trong khi về điều kiện kinh tế ông có công việc ổn định, làm việc không quá xa nhà, thu nhập bình quân mỗi tháng 12.000.000 đồng; nếu giao con cho ông nuôi thì có ông bà Nội phụ chăm sóc, vì ông bà làm ruộng, bán quán ăn nhỏ tại nhà nên việc chăm sóc bé sẽ tốt hơn khi ở với mẹ chỉ có bà Ngoại chăm sóc, vì những vấn đề trên ông yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng con, ông không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị Thu T trình bày:
Bà thừa nhận sau khi ly hôn bà đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh và trong thời gian này bà có chung sống như vợ chồng với người đàn ông khác và đã sinh con vào tháng 11/2021. Do phải chuẩn bị sinh con nên vào khoảng 10/2021 bà nghĩ việc tại thành phố Hồ Chí Minh và về nhà chung sống với mẹ ruột cho đến nay. Hiện nay bà ở nhà chăm sóc các con, không có việc làm. Thu nhập, chi tiêu sinh hoạt gia đình có được từ nguồn tiền của ông Ngoại làm việc (nuôi cá) tại thành phố Hồ Chí Minh gửi về mỗi tháng 3.000.000 đồng và cộng thêm nguồn thu từ việc bà Ngoại buôn bán trái cây tại nhà 2.000.000 đồng. Đối với việc thăm nom con đúng như ông T trình bày và vào ngày 15/02/2022 ông T chở cháu T về nhà ông T chơi và cho đến nay ông T không trả cháu T về nhà bà. Nay bà không đồng ý giao con cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng vì bà Ngoại chăm sóc tốt cho bé và bé phát triển bình thường.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Thảo T, sinh ngày 13/11/2018 từ bà Trần Thị Thu T sang ông Nguyễn Văn T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét nguyên đơn ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại khoản 3 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua các căn cứ ông T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con được bà T thừa nhận. Từ đó có cơ sở xác định sau khi ly hôn bà T không trực tiếp nuôi con mà giao cho bà Trần Thị Phỉ (bà Ngoại cháu) nuôi dưỡng, chăm sóc. Theo Quyết định số 33/2021/QĐST-HNGĐ thì bà T, ông T ly hôn ngày 26/3/2021 nhận thấy khi cha mẹ ly hôn ảnh hưởng phần nào đến tâm lý của con và con thiếu thốn nhất định trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; trong giai đoạn này con cần sự quan tâm, chăm sóc thì bà T lại đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh và chung sống như vợ chồng với người đàn ông khác và sinh con vào tháng 11/2021. Điều này cho thấy sự thiếu trách nhiệm làm mẹ của bà T. Trong khi ông T vẫn thực hiện quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, được bà T thừa nhận. Ngoài ra, bà T trình bày hiện nay bà không có việc làm mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình phải phụ thuộc ông bà Ngoại cháu T, còn ông T có chứng cứ chứng minh có thu nhập hàng tháng là 12.000.000 đồng (bút lục 12). Mặc khác, qua xác minh tại nơi cư trú của nguyên, bị đơn có cơ sở xác định về điều kiện, hoàn cảnh gia đình như nguyên, bị đơn trình bày là đúng. Việc bà T không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn vì cho rằng việc bà Ngoại chăm sóc con vẫn đảm bảo bé phát triển tốt xét việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là nghĩa vụ của cha mẹ nhưng bà T đều chuyển giao trách nhiệm cho Ngoại cháu là vi phạm Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình (LHN&GĐ). Căn cứ Điều 84 LHN&GĐ quy định: Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải có sự thỏa thuận của cha mẹ hoặc người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Xét từ những vấn đề bà T trình bày, thừa nhận và chứng cứ do ông T cung cấp, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của T là phù hợp. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cần giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của ông T về việc chở cháu T về nhà nhưng không giao con lại cho gia đình bà T. Do hiện nay con do ông T đang nuôi dưỡng nên không cần phải buộc bà T phải giao con cho T mà chỉ cần tuyên việc thay đổi người trực tiếp nuôi con từ bà T sang ông T.
Ngoài ra, xét người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nhưng ông T không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con và bà T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nếu giao con cho ông T nuôi. Căn cứ vào Điều 83 LHN&GĐ, Hội đồng xét xử không buộc bà T phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhập nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Tuyên án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Thảo T (giới tính: nữ), sinh ngày 13/11/2018 từ bà Trần Thị Thu T sang ông Nguyễn Văn T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho bà T không ai được cản trở.
- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Thu T phải chịu tiền án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Ông Nguyễn Văn T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà ông đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0004216 ngày 22/02/2022.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Thốt Nốt; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Đông Thái Ánh Trinh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Kim Hưng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Kim Hưng |