- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn B - Huỳnh Thị Tuyết V "Ly hôn""
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B đối với bà Huỳnh Thị Tuyết V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 10/2022/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 5 - 2022 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Hoàng Ráng.
Bà Ngô Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Ngày 20 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1973; Địa chỉ: Nhà chưa có số, đường Nguyễn Thành A, Khu phố 5, Phường 1, thị xã K, tỉnh L(có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Tuyết V, sinh năm 1976; Địa chỉ: Nhà chưa có số, đường Nguyễn Thành A, Khu phố 5, Phường 1, thị xã K, tỉnh L(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Văn B và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày: Vào năm 1994 ông B với bà V kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M (nay là Phường 1, thị xã K), hôn nhân tự nguyện không ai ép buộc. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau. Từ đó, tình cảm vợ chồng rạn nứt và lạnh nhạt nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Hiện nay ông với bà V đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, nên không còn điều kiện, khả năng để hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà V trả tự do cho nhau.
Về con chung: Trong thời gian vợ chồng ông B, bà V chung sống có hai người con chung tên Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1995, giới tính nam và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1997, giới tính nam. Hiện nay hai người con chung đã trưởng thành, không bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động để tự nuôi bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nhận được đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn B Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã ra thông Bo về việc thụ lý vụ án số 05/TB-TLVA ngày 21/01/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 09/TB-TA ngày 21/02/2022 đã tống đạt hợp lệ cho bà V theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố Tụng dân sự, nhưng bà V không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời ông Nguyễn Văn B có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1973; Địa chỉ: Nhà chưa có số, đường Nguyễn Thành A, Khu phố 5, Phường 1, thị xã K, tỉnh L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bà Huỳnh Thị Tuyết V, sinh năm 1976; Địa chỉ: Nhà chưa có số, đường Nguyễn Thành A, Khu phố 5, Phường 1, thị xã K, tỉnh L. Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án đã niêm yết hợp lệ cho bà V theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố Tụng dân sự, nhưng bà V không có mặt và ông Nguyễn Văn B có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử vắng mặt ông B và bà V là phù hợp với quy định của pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn B với bà Huỳnh Thị Tuyết V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mộc Hóa (nay là Phường 1, thị xã Kiến Tường). Đây là hôn nhân hợp pháp nên Tòa án thụ ký giải quyết là phù hợp với với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn B xác định không còn tình nghĩa vợ chồng với bà Huỳnh Thị Tuyết V, không còn điều kiện, khả năng hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con chung nên yêu cầu được ly hôn với bà V. Xét thấy, tình cảm vợ chồng của ông B với bà V đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thương yêu, quí trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, hiện tại hai người đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Vì vậy, cần xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn B là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Trong thời gian vợ chồng ông B, bà V chung sống có hai người con chung tên Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1995, giới tính nam và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1997, giới tính nam. Hiện nay hai người con chung đã trưởng thành, không bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động để tự nuôi bản thân nên không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Ông B xác định không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ông B cam kết không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết V từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử không có văn bản ghi ý kiến của mình, không đến tham gia phiên hòa giải và phiên tòa đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 3, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 ông Nguyễn Văn B phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b Khoản 1 Điều 3, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B đối với bà Huỳnh Thị Tuyết V.
Về hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Văn B ly hôn với bà Huỳnh Thị Tuyết V.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0000594 ngày 18/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn B đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho ông Nguyễn Văn B và bà Huỳnh Thị Tuyết V biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND thị xã; - Chi cục THADS thị xã; - UBND Phường 1, TX Kiến Tường; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trình Văn Út |