- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh châp nuôi con khi ly hôn giữa chị L và anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Mạnh T.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HNGD-PT Ngày 31-3-2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Tiên.
Các thẩm phán:
Ông Phạm Văn Tâm;
Ông Trần Tuấn Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Công Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Bà Đặng Thị Châu
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số: 09/2021/TLPT–HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2022/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2022/QĐPT-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996, địa chỉ: tổ 07, ấp 4, xã S, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
2. Bị đơn: Anh Hoàng Mạnh T, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có măt;
3. Người kháng cáo: bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Mạnh T chung sống từ năm 2017, đăng ký kết hôn ngày 15-3-2018. Anh chị chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, bất đồng trong cách sống. Anh chị không còn chung sống từ tháng 3-2021. Chị L yêu cầu ly hôn, anh T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L.
Anh chị có 02 con chung tên tên Hoàng Thị Trúc P, sinh ngày 06-5-2018 và Hoàng Thiên U sinh ngày 26-6-2020; đều đang sống với chị L. Chị L yêu cầu nuôi các con, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.000.000 đồng; anh T yêu cầu nuôi cháu Tú, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2021/TLPT–HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh quyết định:
Căn cứ vào Điều 55, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị L và anh T.
- Con chung: Giao 02 cháu Hoàng Thị Trúc P, sinh ngày 06-5-2018 và Hoàng Thiên U sinh ngày 26-6-2020 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 cháu Phương và Tú, mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 02/2022 đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, lãi chậm trả, quyền kháng cáo của các đương sự.
* Nội dung kháng cáo: Theo đơn ngày 28/01/2022, anh Hoàng Mạnh T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu được nuôi một trong các con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Hoàng Mạnh T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Anh trình bày, cách nay khoảng 04 ngày, anh có gọi điện thoại cho chị L, chị L đồng ý giao cháu Tú cho anh nuôi. Do đó, nếu Tòa án giao cháu Tú thì anh đồng ý nuôi cháu Tú.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng qui định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo luật Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội qui phiên tòa.
- Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh T; Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2022/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 30-3-2022, chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của anh Hoàng Mạnh T thấy rằng: Xét điều kiện nuôi con của anh T và chị L thấy rằng, anh T có nhà ở riêng, hiện tại anh đang làm thợ sắt công việc không thường xuyên nhưng vẫn có thu nhập nhưng không ổn định; chị L hiện sống chung với mẹ ruột có sự hổ trợ chăm sóc các con từ mẹ chị L, chị đi làm công nhân có thu nhập ổn định và các cháu đều đang được đi gửi trẻ. Như vậy cả anh chị đều có điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, từ tháng 3/2021, chị L và anh T không sống chung, các con của anh chị sống với chị L, các cháu vẫn phát triển tốt. Chị L có thu nhập ổn định, cháu Tú dưới 36 tháng tuổi theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình phải giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng; cháu Phương là con gái vẫn chưa được 04 tuổi nên sống với mẹ sẽ tốt hơn. Tòa án cấp sơ thẩm giao các con cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Tú trình bày cho rằng chị L đồng ý giao cháu Tú cho anh nuôi dưỡng nhưng anh không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Tại biên bản lấy lời khai chị L ngày 30-3-2022, chị L trình bày chị vẫn yêu cầu được nuôi các con. Do đó, không có cơ sơ để xác định chị L tự nguyện giao con cho anh T nuôi dưỡng. Vì vậy kháng cáo của anh T không có cơ sở chấp nhận.
[3] Án phí phúc thẩm: Anh T phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Mạnh T; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2022/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 55, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Mạnh T.
2. Về quan hệ con chung:
Giao cháu Hoàng Thị Trúc P, sinh ngày 06-5-2018 và Hoàng Thiên U sinh ngày 26-6-2020 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 cháu Phương và Tú, mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng, 02 cháu 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 02/2022 đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày chị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh T chưa thi hành số tiền cấp dưỡng hàng tháng nêu trên, thì anh T còn phải chịu tiền lãi tương ứng với thời gian chưa thi hảnh theo mức lãi suất được quy định theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về tài sản chung, nợ chung: chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị L chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0006760 ngày 08-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị L đã nộp xong khoản tiền này.
5. Án phí phúc thẩm:
Anh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0007068 ngày 28-01-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận anh T đã nộp xong khoản tiền này.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - TAND huyện; - Chi cục huyện; - Phòng KTNV; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | (đã ký) Nguyễn Thị An Tiên |