vanban.org

Bản án 10/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Quốc B.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ánh Ng (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03/8/2018 cho chị Phạm Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Phạm Ngọc H chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Quốc B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NH DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 4 – 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NH DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil

Các Hội thẩm nH dân: Ông Trần Văn Út

Bà Trần Thị Bé Ba

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nH dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nH dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nH dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXXST–HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 07 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc H, sinh năm: 1998 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp 7, xã Th H, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc B, sinh năm: 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp 6, xã L Tr A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Phạm Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2016 chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Quốc B tổ chức lễ cưới và anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Hưng, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện.

Về nguyên nH mâu thuẫn: Lúc đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến đầu năm 2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, anh B thường xuyên đánh đập, chữi mắn chị H nên từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nH không đạt được. Nay chị H nhận thấy không còn tình cảm với anh B nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc B.

Về con chung: Chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Quốc B có 01 con chung, tên Nguyễn Ánh Ng (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03/8/2018, cháu Ng hiện sống chung với chị H. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Ng, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn Nguyễn Quốc B nhưng bị đơn Nguyễn Quốc B vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không tiến hành ghi được lời khai của bị đơn Nguyễn Quốc B, cũng như anh Nguyễn Quốc B không có văn bản nào trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc H.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nH dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn Nguyễn Quốc B không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Ngọc H, cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Quốc B.

Con chung: Giao cháu Nguyễn Ánh Ng (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03/8/2018 cho chị Phạm Ngọc H nuôi dưỡng. Chị H chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Nguyễn Quốc B.

Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Quốc B thành vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Ngọc H phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn”, căn cứ Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Phạm Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn Nguyễn Quốc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn Phạm Ngọc H và bị đơn Nguyễn Quốc B.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị Phạm Ngọc H, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Quốc B đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Hưng, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 27/6/2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Phạm Ngọc H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến năm 2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, anh B thường xuyên đánh đập, chữi mắn chị H nên từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nH không đạt được. Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt chị Phạm Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc B. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Quốc B là trầm trọng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nH và gia đình năm 2014 “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nH lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nH không đạt được”. Vì vậy, chị Phạm Ngọc H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc B là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Quốc B có 01 con chung, tên Nguyễn Ánh Ng (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03/8/2018, cháu Ng hiện sống chung với chị H. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Ng. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu Nguyễn Ánh Ng chưa đủ 07 tuổi nên Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến đối với cháu Nguyệt nhưng từ khi chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Quốc B ly tH cho đến nay chị Phạm Ngọc H là người trực tiếp chăm sóc cho cháu Ng có cuộc sống chu đáo, anh B có chăm sóc nhưng không bằng chị Phạm Ngọc H. Do đó, để đảm B sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Nguyễn Ánh Ng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nH và gia đình thống nhất giao cháu Nguyễn Ánh Ng cho chị Phạm Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Phạm Ngọc H chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Nguyễn Quốc B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Nguyễn Quốc B đều vắng mặt, do đó Tòa án không tiến hành ghi được lời khai của anh Nguyễn Quốc B nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung của chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Quốc B có hay không. Do đó, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung không giải quyết, nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Phạm Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nH và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9; Điều 51; Điều 53, Điều 56; Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Quốc B.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ánh Ng (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03/8/2018 cho chị Phạm Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Phạm Ngọc H chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Nguyễn Quốc B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Quốc B thành vụ án khác khi có yêu cầu.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Phạm Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Phạm Ngọc H được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0004091, lập ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ