vanban.org

Bản án 10/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hà Cẩm T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Phan Thanh S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hà Cẩm T được ly hôn với anh Phan Thanh S. Về con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Phan Ngọc Bảo T, sinh ngày 28-02-2017 cho chị Nguyễn Hà Cẩm T chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và anh Phan Thanh S không phải cấp dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Hà Cẩm Thu; bị đơn: Anh Phan Thanh Sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hà Cẩm T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Phan Thanh S.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HNGĐ-ST
Ngày 21-02-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Lộc.

2. Bà Nguyễn Thị Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hà Cẩm T, sinh năm: 1993 (có mặt);

Địa chỉ: Số 114, tổ 15, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Anh Phan Thanh S, sinh năm: 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số Q46, tổ 12, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Hà Cẩm T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hà Cẩm T và anh Phan Thanh S tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2016, được Ủy ban nhân dân xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 136/2016 ngày 17-8-2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì liên tục phát sinh mâu thuẫn, chị T nhiều lần nhường nhịn để cùng nhau lo cho gia đình. Tuy nhiên, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, thỉnh thoảng lại xảy ra vô xát dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung và không còn tôn trọng lẫn nhau. Xác định mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh S.

Về con chung và cấp dưỡng: Chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Ngọc Bảo T, sinh ngày 28-02-2017 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh S cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phan Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo kết quả xác minh, anh S có hộ khẩu thường trú tại số nhà Q46, tổ 12, ấp Phước Hiệp, xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và đang sinh sống tại địa phương.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do, chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các điều 205, 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại các điều 225, 237 và 239 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành nghiêm chỉnh quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh S. Giao cháu Phan Ngọc Bảo T cho chị T nuôi dưỡng. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ sau ly hôn được giải quyết theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa chị T xác định yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh S được xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo chị T sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên được một thời gian ngắn thì liên tục phát sinh mâu thuẫn, chị T nhiều lần nhường nhịn để cùng nhau lo cho gia đình, nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không có tiếng nói chung và không còn tôn trọng lẫn nhau. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T xin được ly hôn với anh S. Qúa trình tố tụng anh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần để làm rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo kết quả xác minh quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn gì hay không thì địa phương không nắm rõ, chị T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không thể hàn gắn trong khi đó anh S cố tình vắng mặt cho thấy không có thiện chí hòa giải đoàn tụ. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì yêu cầu của chị T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung và cấp dưỡng: Chị T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Ngọc Bảo T đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh S cấp dưỡng. Xét thấy, cháu Trâm đang còn nhỏ cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ hơn nên giao cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Việc chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng là hoàn toàn tự nguyện nên ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hà Cẩm T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Phan Thanh S.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hà Cẩm T được ly hôn với anh Phan Thanh S.

- Về con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Phan Ngọc Bảo T, sinh ngày 28-02-2017 cho chị Nguyễn Hà Cẩm T chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và anh Phan Thanh S không phải cấp dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Án phí: Chị Nguyễn Hà Cẩm T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2020/0009831 ngày 29 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

3. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỔNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ