- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Văn V1 được ly hôn chị Nguyễn Thị Diệu T1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2022/HNGĐ-ST Ngày 11-8-2022 V/v “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Thanh Tùng
2/ Bà Trần Thị Thương.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hoài Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26/7/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đinh Văn V1; sinh năm 1987; Địa chỉ: thôn H, xã Ba Lòng, huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị; Có mặt;
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Diệu T1; sinh năm 1995; Địa chỉ: khối 3A, thị trấn K, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Đinh Văn V1 trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại tòa án:
Về tình cảm: Anh Đinh Văn V1 và chị Nguyễn Thị Diệu T1 tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 13/12/2017 tại UBND xã Ba Lòng, huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống với nhau tại xã Ba Lòng, Huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xãy ra mâu thuẫn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, không có tiếng nói chung. Chị Nguyễn Thị Diệu T1 đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại khối 3A, thị trấn K, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị từ tháng 8/2018 đến nay, hai vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau. Nay Anh Đinh Văn V1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Diệu T1.
Về con chung: Anh Đinh Văn V1 và chị Nguyễn Thị Diệu T1 có 01 con chung là cháu Đinh T1 K2, sinh ngày 05/01/2018. Khi ly hôn, anh Đinh Văn V1 có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đinh T1 K2 vì từ nhỏ đến lớn cháu ở với anh, chị Nguyễn Thị Diệu T1 bỏ đi không thăm nom con. Anh Đinh Văn V1 không yêu cầu chị Nguyễn Thị Diệu T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị Diệu T1 mặc dù đã được cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và không có ý kiến phản hồi.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đinh Văn V1 đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: 01 Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính); 01 Giấy chứng minh nhân dân (Bản phô tô chứng thực); 01 Giấy khai sinh của con (Bản sao); 01 Sổ hộ khẩu gia đình (Bản phô tô chứng thực); 01 Đơn yêu cầu Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
Bị đơn chị Nguyễn Thị Diệu T1 không giao nộp cho Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Đinh Văn V1 được ly hôn chị Nguyễn Thị Diệu T1.
Về con chung: Giao cháu Đinh T1 K2, sinh ngày 05/01/2018 cho anh Đinh Văn V1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị Nguyễn Thị Diệu T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh Đinh Văn V1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Anh Đinh Văn V1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và lệ phí đăng Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Anh Đinh Văn V1 khởi kiện yêu cầu được ly hôn chị Nguyễn Thị Diệu T1 có HKTT ở khối 3A, thị trấn K, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo Biên bản xác minh ngày 29/3/2022 tại Công an thị trấn K, bị đơn chị Nguyễn Thị Diệu T1 đã vắng mặt tại nơi cư trú từ tháng 6/2021 đến nay, không rõ đi đâu làm gì. Bị đơn anh Đinh Văn V1 có đơn yêu cầu Tòa án Thông báo cấp, tống đạt văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng Do chị Nguyễn Thị Diệu T1 hiện nay không có mặt ở địa phương, không rõ đi đâu, nên việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án không bảo đảm để cho chị Nguyễn Thị Diệu T1 nhận được thông tin về các văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo liên quan đến vụ án. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành đăng thông báo Về việc cấp tống đạt văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng cho bị đơn chị Nguyễn Thị Diệu T1 theo quy định của pháp luật, cụ thể: Đăng trên báo nhân dân 03 số liên tiếp vào các ngày 21, 22, 23 tháng 4 năm 2022; Đăng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 số phát sóng liên tiếp vào các ngày 25,26,27 tháng 4 năm 2022 và đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án ngày 23/6/2022 nhưng chị Nguyễn Thị Diệu T1 không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Diệu T1 được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Diệu T1.
. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Văn V1 và chị Nguyễn Thị Diệu T1 tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 13/12/2017 tại UBND xã Ba Lòng, huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị. Như vậy hôn nhân giữa anh Đinh Văn V1 và chị Nguyễn Thị Diệu T1 được pháp luật công nhận. Theo kết quả xác minh tại Biên bản xác minh ngày 09/6/2022 tại UBND xã Ba Lòng và ngày 05/7/2022 tại UBND thị trấn K có nội dung: “Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống với nhau tại xã Ba Lòng, Huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xãy ra mâu thuẫn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, không có tiếng nói chung. Chị Nguyễn Thị Diệu T1 đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại khối 3A, thị trấn K, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị từ tháng 8/2018 đến nay”. Hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nên không chăm sóc lẫn nhau; vì vậy, tình trạng hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Đinh Văn V1 được ly hôn chị Nguyễn Thị Diệu T1.
- Về con chung: Anh Đinh Văn V1 và chị Nguyễn Thị Diệu T1 có 01 con chung là cháu Đinh Thúy K2, sinh ngày 05/01/2018. Hiện nay, anh Đinh Văn V1 có nghề nghiệp là Lái xe tải, có thu nhập ổn định, chị Nguyễn Thị Diệu T1 vắng mặt ở địa phương, không rõ đi đâu làm gì. Mặt khác, cháu Đinh Thúy K2 đang được anh Đinh Văn V1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao cháu Đinh Thúy K2 cho anh Đinh Văn V1 được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận việc anh Đinh Văn V1 không yêu cầu chị Nguyễn Thị Diệu T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về phân chia tài sản chung: Anh Đinh Văn V1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đinh Văn V1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về lệ phí Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Anh Đinh Văn V1 thuận chịu toàn bộ lệ phí Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.900.000 đồng.
. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Văn V1 được ly hôn chị Nguyễn Thị Diệu T1.
2. Về con chung: Giao cháu Đinh Thúy K2, sinh ngày 05/01/2018 cho anh Đinh Văn V1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Diệu T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về án phí: Anh Đinh Văn V1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số CC/2021/0000121 ngày 11/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa. Anh Đinh Văn V1 đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm
Về lệ phí đăng Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Anh Đinh Văn V1 thuận chịu 3.900.000 đồng. Anh Đinh Văn V1 đã nộp đủ.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND T.Quảng Trị; - VKSND T.Quảng Trị - VKSND H.Hướng Hóa; - Chi cục THADS H. Hướng Hóa; - UBND xã Ba Lòng, huyện Đa Krông; - Các đương sự; - Lưu HSVA; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trung |