- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử : Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của anh NVX.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ TỈNH KONTUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 22-12-2022. V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ – TỈNH KONTUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoa Như.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hồng Huyên
2. Ông Lê Văn Mạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh KonTum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh KonTum tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc– Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp:“Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/QĐ-HPT ngày 05/12/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh NVX. Sinh năm 1991. (Có mặt)
- Bị đơn: Chị LTNT – Sinh năm 1992. (Vắng mặt).
Cùng trú tại: Khối 1, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
- Người làn chứng : Ông Lâm Văn Xếp
Trú tại: Khối 1, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại phiên toà nguyên đơn trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị LTNT tự nguyện kết hôn ngày 06 tháng 6 năm 2019 đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đăk Tô. Trước khi kết hôn, chị T đã có 03 người con riêng nhưng tôi vẫn chấp nhận. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, mỗi lần phát sinh mâu thuẫn là chị Thủy lại đi khỏi nhà rất nhiều lần. Vợ chồng mâu thuẫn không có tiếng nói chung, cãi nhau thường xuyên và chị T còn đập pháp đồ đạc trong nhà mỗi khi tức giận. Chị T không có nghề nghiệp và cũng không chịu làm ăn, tiền tôi đưa bao nhiêu cũng hết. Do đặc thù làm nghề lái xe, tôi thường xuyên vắng nhà thì tôi được thông tin nghe nói chị T thường hay tụ tập ăn nhậu, đi với người này người kia. Thời gian cách đây khoảng 04 tháng chúng tôi có mâu thuẫn thì chị Thủy lại bỏ đi mà không liên lạc gì với tôi không gọi điện và cũng không quan tâm đến gia đình.
Nay tôi thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án sớm giải quyết cho tôi được ly hôn.
- Về con chung: Chúng tôi chưa có con chung.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn trình bày ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì và không tham gia tố tụng.
Người làm chứng ông Lâm Văn Xếp khai: Tôi là cha đẻ của cháu LTNT. Trước đây con tôi có tự nguyện kết hôn với anh NVX. Trước khi kết hôn với X thì cháu T đã có một đời chồng và 03 con riêng. T và X sống với nhau không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, đánh nhau, chồng đánh vợ, vợ đánh chồng, cả hai không ai chịu nhường nhịn ai. Do T không có việc làm, ở nhà lại hay tụ tập bạn bè, không quan tâm đến chồng, mỗi lần X đi làm về là hai bên lại cự cãi, đánh nhau, đập phá đồ đạc, thời gian gần đây T bỏ nhà đi làm xa, không nói địa chỉ đang ở đâu. Vợ chồng X T không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau, mạnh ai nấy sống. Khi cháu T gọi điện về thì tôi có nói với cháu về việc X đề nghị ly hôn và cháu cũng đồng ý ly hôn nhưng ở xa, không muốn về và không muốn gặp lại X nữa. Cả hai vợ chồng chưa có con chung nên theo tôi thì Tòa án nên giải quyết cho các cháu ly hôn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 19; Điều 51; Điều 56; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn” của anh NVX.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh NVX được ly hôn chị LTNT
- Về án phí: Anh NVX phải chịu 300.000 đồng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh X khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị T. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh KonTum.
Bị đơn chị LTNT: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa mặc dù Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu về việc xin ly hôn và không tham gia tố tụng. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét về quan hệ hôn nhân: Anh X và chị T tự nguyện kết hôn ngày 06 tháng 6 năm 2019 đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đăk Tô do đó quan hệ hôn nhân này là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn theo anh X trình bày: Vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, không hợp nhau về lối sống, sinh hoạt, nên không tìm được tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không còn tình cảm vợ chồng..
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa anh NVX xác định không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn mặc dù đã được Hội đồng xét xử động viên, phân tích để đoàn tụ gia đình.
Anh X và chị T đã sống ly thân, chị T thường xuyên bỏ nhà đi không cung cấp địa chỉ, không quan tâm đến gia đình và không có ý chí xây dựng gia đình no ấm hạnh phúc. Tòa án đã triệu tập nhiều lần, đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là Báo Công lý và Đài tiếng nói Việt Nam trong ba số liên tiếp nhưng chị T vẫn vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, đã thể hiện sự không quan tâm đến hôn nhân và gia đình và việc quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình đã không được chị T thực hiện theo điều 19 Luật hôn nhân gia đình 2014.
Mặt khác, trước khi kết hôn, chị T đã có 03 con riêng, sau khi kết hôn chưa có con chung, vợ chồng chưa có sự ràng buộc với nhau về con cái.
Người làm chúng là ông Lâm Văn Sếp, cha đẻ của chị LTNT cũng xác nhận vợ chồng X + T thường xuyên mâu thuẫn, mạnh ai nấy sống, sống không hạnh phúc và ủng hộ việc ly hôn.
Qua xác minh tại Hội trưởng hội phụ nữ khối 1, thị trấn Đăk Tô thì vợ chồng X + Tthường xuyên xảy ra đánh cãi nhau trong cuộc sống và hiện nay không còn chung sống với nhau nữa.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh X, chị T đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng , làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh X theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
Về án phí: Anh NVX phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 , điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 19; Điều 51; Điều 56; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xử : Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của anh NVX.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh NVX được ly hôn chị LTNT.
- Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Anh NVX phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002525 ngày 13-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Tô.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22- 12 - 2022) nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KonTum; - VKSND huyện Đăk Tô; - Chi cục THADS huyện Đăk Tô; - Các đương sự; - UBND nơi ĐKKH; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TAND HUYỆN ĐĂK TÔ Các hội thẩm nhân dân Trƣơng Duy Cảnh Nguyễn Thị Sƣơng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoa Nhƣ Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Lê Hoa Nhƣ |