vanban.org

Bản án 10/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung H.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung H được ly hôn chị Trần Ái L. Về án phí: Anh Nguyễn Trung H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Trung H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Trung H và Trần Ái L"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HNGĐ-ST
Ngày 21-3-2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Thôn;

2. Bà Trương Thị An .

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Đăng Bùi - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2021/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 12 năm 2021 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung H, đăng ký hộ khẩu thường trú: Số T, Quận L, thành phố Hải Phòng, hiện tạm trú: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Trần Ái L, nơi cư trú: Khu V, thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 12 năm 2021, các bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Trung H trình bày:

Anh Nguyễn Trung H và chị Trần Ái L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 21 tháng 7 năm 2016. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận một thời gian, sau đó đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về mọi mặt, vợ chồng sống với nhau nhưng không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cãi nhau, dẫn đến cuộc sống gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Anh H và chị L đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 đến nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ vợ chồng không có khả năng hàn gắn nên anh H xin ly hôn chị Trần Ái L.

Về con chung: Anh Nguyễn Trung H và chị Trần Ái L trong quá trình chung sống không có con chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Trung H trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Trần Ái L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập nhiều lần đến tòa án tham gia giải quyết vụ án nhưng chị Trần Ái L đều vắng mặt không có lý do nên không có lời khai của chị Trần Ái L.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là anh Nguyễn Trung H đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chị Trần Ái L không đến tham gia phiên tòa không có lý do là chưa chấp hành quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử cho anh H và chị L được ly hôn; về con chung: Anh H và chị L không có con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung: Anh H trình bày vợ chồng không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Anh H phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Trung H có đơn khởi kiện xin ly hôn chị Trần Ái L nên xác định đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn chị Trần Ái L có nơi cư trú tại khu V, thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Trung H vắng mặt tại phiên toà và có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn chị Trần Ái L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Trung H và chị Trần Ái L.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung H và chị Trần Ái L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 21 tháng 7 năm 2016. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án anh H cho rằng trong cuộc sống vợ chồng anh đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ nên anh đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với chị L. Căn cứ vào lời khai của anh H, đơn xin xác nhận và biên bản xác minh về mâu thuẫn của chính quyền địa phương và tại gia đình có căn cứ xác định: Trong thời gian chung sống giữa anh H và chị L có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về mọi mặt, vợ chồng sống với nhau nhưng không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cãi nhau, dẫn đến cuộc sống gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Anh H và chị L đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 đến nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Như vậy, xét mâu thuẫn của anh H và chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh H xin ly hôn chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Anh H và chị L không có con chung trong quá trình chung sống , anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Anh H khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Trung H là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Anh Nguyễn Trung H và chị Trần Ái L được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung H được ly hôn chị Trần Ái L.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Trung H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Trung H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001123 ngày 07 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Trung H đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Nguyễn Trung H và chị Trần Ái L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ