vanban.org

Bản án 10/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 21/01/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q, yêu cầu ông Hoàng Phúc Đ thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số 5.

Xác nhận ông Hoàng Phúc Đ còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 với tổng số tiền như sau: Nợ gốc: 1.012.500.000 (Một tỷ, không trăm mười hai triệu, năm t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q, yêu cầu ông Hoàng Phúc Đ thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số 5.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/DSST
Ngày 21 tháng 01 năm 2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng sử dụng
thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thụy

2. Bà Phạm Thị Kim Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình:

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 134/2021/TL– DSST ngày 12 tháng 11 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 396/2021/QĐST - DS ngày 03 tháng 12 năm 2021; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 266/2021/QĐST-HPT ngày 22 tháng 12 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2022/QĐST-HPT ngày 11 tháng 01 năm 2022 giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q . Trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà S– 111A P, phường B, quận 1, Thành phố H. Người đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Thành C– chức vụ: Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ- Trung tâm QLN NHBL theo Giấy ủy quyền số 49313.21 ký ngày 09/07/2021. Ông Trần Thành C ủy quyền lại cho ông Nguyễn Ngọc Đ, ông Vũ Anh Q và ông Hoàng Quốc D theo Giấy ủy quyền số 56944.21 ngày 10/8/2021 v/v nộp đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án. Ông D có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Hoàng Phúc Đ, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số 1 ngõ 6B, phố T, phường T, quận B, thành phố H. Ông Đ có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/8/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Ngân hàng TMCP Q do người đại diện theo ủy quyền là ông Hoàng Quốc D trình bầy:

Ngày 07/01/2019, Ông Hoàng Phúc Đ và Ngân hàng TMCP Q có ký Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 với số tiền vay là 1.350.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán mua 01 xe ô tô Mercedes-Benz CLA45; Thời hạn vay: 72 tháng từ ngày 08/01/2019 đến 07/01/2025. Lãi suất tại thời điểm giải ngân 10,2%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay là:

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng, tạm tính đến ngày 21/01/2022 như sau: Nợ gốc: 1.012.500.000 đồng; Lãi trong hạn: 126.250.177 đồng; Lãi quá hạn: 121.123.690 đồng. Tổng cộng: 1.259.873.867 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với Ông Đ, yêu cầu Ông Đ có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để Ông Đ trả nợ, tuy nhiên Ông Đ vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Vì vậy, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết với các nội dung sau:

1. Buộc ông Hoàng Phúc Đ trả ngay cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 21/01/2022 như sau: Nợ gốc: 1.012.500.000 đồng; Lãi trong hạn: 126.250.177 đồng; Lãi quá hạn: 121.123.690 đồng. Tổng cộng: 1.259.873.867 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019.

2. Ông Hoàng Phúc Đ có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/01/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay theo lãi suất tại hợp đồng.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/11/2021. Bị đơn: ông Hoàng Phúc Đ trình bày:

Ông xác nhận ông và Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T có ký Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 với số tiền vay là 1.3500.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán mua 01 xe ô tô Mercedes-Benz CLA45; Thời hạn vay: 72 tháng từ ngày 08/01/2019 đến 07/01/2025. Lãi suất tại thời điểm giải ngân 10,2%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Ông xác nhận tạm tính đến ngày 29/7/2021 ông còn Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền là 1.164.677.028 đồng. Trong đó nợ gốc là: 1.012.500.000 đồng; nợ lãi: 122.564.390 đồng; nợ lãi quá hạn: 29.612.638 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng yêu cầu ông thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 tạm tính đến ngày 29/7/2021 tổng số tiền là 1.164.677.028 đồng. Trong đó nợ gốc là: 1.012.500.000 đồng; nợ lãi: 122.564.390 đồng; nợ lãi quá hạn: 29.612.638 đồng. Ông xác nhận đây là khoản vay của ông và ông sẽ có trách nhiệm trả nợ. Do hiện nay tình hình dịch bệnh Covid, ông gặp khó khăn về kinh tế, thất nghiệp và không có thu nhập. Vì vậy, ông không có khả năng trả nợ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, ông không có trình bày gì khác.

Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn Tuy nhiên, bị đơn có đơn xin vắng mặt, nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho nguyên đơn và bị đơn được. Vì vậy, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán quy định tại Điều 48 BLTTDS, cụ thể:

- Về thẩm quyền: Theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ: Ông Hoàng Phúc Đ có hộ khẩu thường trú tại số 1 ngõ 6B, phố T, phường T, quận B, thành phố H. Như vậy, việc Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách các đương sự: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương 14 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi về phiên tòa sơ thẩm:

+ Chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án:

- Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q; Buộc ông Hoàng Phúc Đ phải thanh toán trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 21/01/2022 tổng số tiền như sau: Nợ gốc: 1.012.500.000 đồng; Lãi trong hạn: 126.250.177 đồng; Lãi quá hạn: 121.123.690 đồng. Tổng cộng: 1.259.873.867 theo Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 và khoản lãi phát sinh sau ngày 21/01/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ gốc theo lãi suất quy định theo Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 của Ngân hàng TMCP Q.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hoàng Phúc Đ chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Hoàng Phúc Đ vắng mặt lần thứ hai liên tiếp. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt Ông Hoàng Phúc Đ.

Đây là vụ án yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 của Ngân hàng TMCP Q của ông Hoàng Phúc Đ, mục đích vay: Thanh toán mua 01 xe ô tô Mercedes-Benz CLA45. Do vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Hoàng Phúc Đ đăng ký nhân khẩu thường trú tại số 1 ngõ 6B, phố T, phường T, quận B, thành phố H. Do ông Hoàng Phúc Đ không thanh toán được khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q khi đến hạn trả nợ. Do vậy, Ngân hàng TMCP Q đã khởi kiện Ông Đ đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình, đề nghị Tòa án giải quyết buộc Ông Đ phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP Q toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu.

Ngày 07/01/2019, ông Hoàng Phúc Đ và Ngân hàng TMCP Q có ký Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019. Ngày 27/7/2020 Ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng sang nợ quá hạn từ ngày 27/7/2020. Ngày 10/8/2021 Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã nhận được đơn khởi kiện của ngân hàng đối với Ông Đ. Căn cứ Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án này không thuộc trường hợp phải áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố, nên Tòa án không xem xét.

[2]. Về nội dung:

Ngày 07/01/2019, ông Hoàng Phúc Đ và Ngân hàng TMCP Q có ký Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019; Mục đích vay: Thanh toán mua 01 xe ô tô Mercedes-Benz CLA45; Biện pháp đảm bảo cho khoản vay: Thanh toán mua 01 xe ô tô Mercedes-Benz CLA45. Hội đồng xét xử nhận thấy, Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự. Do đó xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trả góp Ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 27/7/2020 nên theo Điều 4.3 của điều khoản và điều kiện cấp tín dụng quy định về chuyển nợ quá hạn:

“a) Trường hợp bên được cấp tín dụng không thanh toán bất kỳ số dư nợ gốc nào phải trả vào ngày đến hạn theo tài liệu và không được VIB chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ, VIB có quyền quyết định chuyển số dư nợ gốc đó sang nợ quá hạn và thực hiện ngay các biện pháp thu hồi nợ phù hợp với quy định của pháp luật;

b) VIB có quyền quyết định chuyển toàn bộ dư nợ liên quanđến khoản tín dụng sang nợ quá hạn nếu bên được cấp tín dụng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 4.1;

c) VIB sẽ thông báo cho bên được cấp tín dụng về việc chuyển nợ quá hạn nêu trên. Nội dung thông báo bao gồm số dư nợ gốc bị quá hạn, thời điểm chuyển nợ quá hạn và lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn”.

Nay Ngân hàng khởi kiện buộc Ông Đ phải thanh toán cho ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày ngày 21/01/2022 như sau: Nợ gốc: 1.012.500.000 đồng; Lãi trong hạn: 126.250.177 đồng; Lãi quá hạn: 121.123.690 đồng. Tổng cộng: 1.259.873.867 đồng. Đối với yêu cầu tính lãi suất quá hạn của Ngân hàng TMCP Q, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua đối chiếu nhận thấy cách tính lãi, phí chậm thanh toán của các bên theo Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 của Ngân hàng TMCP Q phù hợp quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn ông Hoàng Phúc Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

- Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

- Vì các căn cứ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2010).

Căn cứ Điều 335, 336, 338, 339, 340, 341, 342; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q, yêu cầu ông Hoàng Phúc Đ thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019.

- Xác nhận ông Hoàng Phúc Đ còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 với tổng số tiền như sau: Nợ gốc: 1.012.500.000 (Một tỷ, không trăm mười hai triệu, năm trăm nghìn) đồng; Lãi trong hạn: 126.250.177 (Một trăm hai mươi sáu triệu, hai trăm năm mươi nghìn, một trăm bảy mươi bảy) đồng; Lãi quá hạn: 121.123.690 (Một trăm hai mươi mốt triệu, một trăm hai mươi ba nghìn, sáu trăm chín mươi) đồng. Tổng cộng: 1.259.873.867 (Một tỷ, hai trăm năm mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi ba nghìn, tám trăm sáu mươi bảy) đồng tạm tính đến ngày 21/01/2022.

2. Buộc Ông Hoàng Phúc Đ thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP Q với tổng số tiền như sau: Nợ gốc: 1.012.500.000 (Một tỷ, không trăm mười hai triệu, năm trăm nghìn) đồng; Lãi trong hạn: 126.250.177 (Một trăm hai mươi sáu triệu, hai trăm năm mươi nghìn, một trăm bảy mươi bảy) đồng; Lãi quá hạn: 121.123.690 (Một trăm hai mươi mốt triệu, một trăm hai mươi ba nghìn, sáu trăm chín mươi) đồng. Tổng cộng: 1.259.873.867 (Một tỷ, hai trăm năm mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi ba nghìn, tám trăm sáu mươi bảy) đồng tạm tính đến ngày 21/01/2022.

3. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này giữa các bên có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Hoàng Phúc Đ phải chịu 49.796.216 (Bốn mươi chín triệu, bảy trăm chín mươi sáu nghìn, hai trăm mười sáu) đồng án phí dân sự sơ thẩm (chưa nộp).

- Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 24.000.000 (Hai mươi tư triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0067537 ngày 12 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

5. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, Ông Hoàng Phúc Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019.

Trường hợp Hợp đồng tín dụng số 5.02.069.2019.HĐTD ngày 07/01/2019; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5.02.069.2019.KUNN ngày 07/01/2019 các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị đơn ông Hoàng Phúc Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt, niêm yết bản án.

Cỡ chữ