- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất giữa cụ Phan Tỉnh với vợ chồng ông Phan Tha và bà Đinh Thị Hoa"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điêu 203 Luật đât đai năm 2003; Áp dụng Điêu 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 9 Điêu 26, Điêu 34, khoản 3 Điêu 36, khoản 1 Điêu 39, Điêu 144, Điêu 146, Điêu 147, Điêu 220, Điêu 227, Điêu 228, Điêu 273 của bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/201…
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Luật Đất đai; Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐD | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| T LĐ Bản án số: 10/2022/DS-ST Ngày: 12/5/2022 V/v: Tranh châp dân sự vê quyên sử dụng đât. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐD
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đình Anh V.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ T;
2. Ông Lê Văn H.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị P - là thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện ĐD.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐD tham gia phiên toà: bà Phan Thị L - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 và ngày 12 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐD xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2020 vê “Tranh châp vê quyên sử dụng đât” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Cụ Phan T, sinh năm: 1930; Địa chỉ: 68 thôn KTM CS, xã LX, huyện ĐD, T LĐ.
Bị đơn: Ông Phan Th, sinh năm: 1969 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1975, Địa chỉ: 140 thôn KTM CS, xã LX, huyện ĐD, T LĐ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Cụ Liễu Thị T, sinh năm: 1948; địa chỉ: 68 thôn KTM CS, xã LX, huyện ĐD, T LĐ.
2. Bà Lâm Thị H, sinh năm: 1982; địa chỉ: thôn KTM CS, xã LX, huyện ĐD, T LĐ.
3. Ông Phan Q, sinh năm: 1977; địa chỉ: thôn KTM CS, xã LX, huyện ĐD, T LĐ.
- Người đại diện hợp pháp cho cụ Phan T và cụ Liễu Thị T: Ông Võ Văn H; địa chỉ: 27 TQT, thị trân D, huyện ĐD, T LĐ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Võ Văn H là người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn cụ Phan T trình bày: Nguồn gốc diện tích đât tranh châp 1.465m2 (đo đạc thực tế gồm các thửa: thửa 1/336 diện tích 116m2, 1/337 diện tích 88m2, 1/691 diện tích 283m2 tờ bản đồ số 18 và thửa 1/94 diện tích 978m2 tờ bản đồ số 20 toạ lạc tại xã LX, huyện ĐD) là của tập đoàn sản xuât KTM CS giao cho cụ Phan T và cụ Liễu Thị T canh tác vào năm 1985. Đến năm 1997, cụ Phan T và cụ Liễu Thị T cho con là ông Phan Th và bà Đinh Thị H mượn canh tác để có Th nhập lo cho con cái ăn học. Nay, vì tuổi già sức yếu không có nơi nương tựa, con cái không chăm nuôi nên cụ T và cụ Th yêu cầu ông Phan Th và bà Đinh Thị H trả lại diện tích đât 1.465m2 nói trên để ông bà chuyển nhượng hoặc cho Thê nhằm có tiên sinh sống và chữa bệnh. Nay ông Võ Văn H đại diện cho nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan Th và bà Đinh Thị H trả lại diện tích đât 1.465m2 theo sơ đồ đo vẽ do chi nhánh văn phòng đăng ký đât đai lập ngày 24/6/2021. Riêng thửa 1/95 diện tích 14m2 nguyên đơn không tranh châp với bị đơn trong vụ án này. Nguyên đơn thống nhât với giá trị tài sản được định giá theo biên bản định giá tài sản lập ngày 24/01/2022. Ngoài ra nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết vân đê nào khác.
Bị đơn vợ chồng ông Phan Th và bà Đinh Thị H trình bày: Ông bà thống nhât với kết quả đo đạc diện tích đât tranh châp theo sơ đồ đo vẽ do chi nhánh văn phòng đăng ký đât đai lập ngày 24/6/2021 và thống nhât diện tích đât tranh châp theo sơ đồ đo vẽ trên là 1.465m2 như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông bà cho biết trước đây, phần đât 1.465m2 nói trên cùng với phần đât hiện nay ông Phan Q đang sử dụng tuy là Tập đoàn giao cho cụ Phan T và cụ Liễu Thị T sử dụng nhưng cụ T và cụ Th bỏ hoang. Ông bà được biết năm 1990 cụ Phan T cho ông Nguyễn Khắc M nhưng ông M vẫn không nhận. Đến năm 1991 cụ T cho ông Nguyễn T nhưng ông T cũng không nhận. Năm 1996 cụ T và cụ Th cho vợ chồng ông bà toàn bộ cả phần đât 1.465m2 nói trên và phần đât hiện ông Phan Q đang sử dụng. Ông bà đã tiến hành phục hóa và sử dụng cho đến năm 2001 thì cụ T lây lại một phần đât để giao cho ông Phan Q sử dụng (như hiện trạng). Kể từ thời điểm đó ranh giới sử dụng đât giữa ông bà với ông Phan Q hình thành cho đến nay. Riêng phần đât tranh châp ông bà đang sử dụng thì cụ T và cụ Th hứa cho ông bà sử dụng và sau này sẽ cho con ruột của ông bà là cháu Phan Đình T. Ông bà sử dụng đât đến năm 2018 thì cụ T và cụ Th yêu cầu trả lại đât để bán dưỡng già thì ông bà không đồng ý. Ông bà không có ý kiến gì vê giá đối với giá trị tài sản tranh châp theo biên bản định giá tài sản ngày 24/01/2022. Ngoài ra ông bà không có ý kiến gì thêm. Đê nghị Tòa án xem xét giải quyết đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của ông bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Q trình bày: Thửa đât số 337, tờ bản đồ số 18 xã LX ông được cha mẹ là cụ T và cụ Th cho sử dụng nhưng năm 2001 ông Bùi Ngọc L đăng ký câp nhầm nên đến năm 2019 thì ông L đã chuyển lại cho ông đứng quyên sử dụng đât. Theo sơ đồ đo vẽ do Chi nhánh văn phòng đăng ký đât đai lập ngày 24/6/2021 thì ông đang sử dụng thửa 1/336 diện tích 587m2. Cũng theo sơ đồ này thể hiện ông Phan Th đang sử dụng phần đât thửa 1/336 diện tích 116m2 và thửa 1/337 diện tích 88m2 chứ ông không sử dụng. Ông thống nhât với ranh giới đât thực tế sử dụng của ông với phần đât ông Phan Th và bà Đinh Thị H đang sử dụng. Nếu sau này Tòa án giải quyết buộc ông Th và bà H giao lại đât cho bố mẹ ông thì ông cũng thống nhât để bố mẹ sử dụng chứ ông không có tranh châp với ông T, bà H hay bố mẹ ông trong vụ án này đối với các diện tích đât trên. Ngoài ra ông không có tranh châp cũng như không có yêu cầu Tòa án giải quyết vân đê gì khác trong vụ án này.
Người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị H trình bày: Bà là người sử dụng đât giáp ranh với phần đât của ông Q và phần đât của vợ chồng ông T, bà H. Nguồn gốc phần đât của bà giáp ranh với đât ông Q và ông T đang sử dụng do cha mẹ bà cho riêng bà từ năm 1997 và bà đã quản lý sử dụng từ năm 1997 đến nay. Cha mẹ bà có nói với bà đi đăng ký câp giây chứng nhận QSD đât nhưng cho đến nay bà chỉ được câp giây chứng nhận QSD đât thửa 338 giáp đât ông Q, còn phần đât giáp ranh đât ông T đang sử dụng bà vẫn chưa đăng ký câp giây chứng nhận QSD đât. Theo sơ đồ đo vẽ do Chi nhánh văn phòng đăng ký đât đai lập ngày 24/6/2021 thì phần đât bà đang sử dụng là thửa đât số 691 giáp ranh với đât ông T sử dụng và một phần giáp thửa đât số 1/337 của ông Q đã được câp giây chứng nhận QSD đât. Bà khẳng định hiện trạng sử dụng đât thực tế giữa bà với ông Phan Th và ông Phan Q được ngăn cách thực tế bằng con mương theo hiện trạng từ năm 1997 cho đến nay. Hai bên không có tranh châp. Do vậy bà công nhận con mương này làm ranh giới thực tế. Bà không có tranh châp gì đối với diện tích đât 283m2 thửa 1/691 hiện ông T, bà H đang sử dụng trong vụ án này. Nếu sau này xin xét câp giây chứng nhận QSD đât thì bà cũng chỉ xin xét câp đúng hiện trạng phần đât bà đang sử dụng từ con mương sang phía đât của bà. Bà không có tranh châp cũng như không có yêu cầu Tòa án giải quyết vân đê gì khác trong vụ án này.
Tại phiên toà, các đương sự có mặt vẫn giữ nguyên ý kiến của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐD phát biểu ý kiến vê việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc châp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo quy định của BLTTDS và đê nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điêu 203 Luậ đât đai năm 2013 và Điêu 166 Bộ luật dân sự năm 2015 châp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Phan T vê việc yêu cầu ông Phan Th, bà Đinh Thị H trả lại cho cụ Phan T và cụ Liễu Thị T diện tích đât 1.465m2 (đo đạc thực tế gồm các thửa: thửa 1/336 diện tích 116m2 , 1/337 diện tích 88m2, 1/691 diện tích 283m2 tờ bản đồ số 18 và thửa 1/94 diện tích 978m2 tờ bản đồ số 20) toạ lạc tại xã LX, huyện ĐD, T LĐ.
- Vê chi phí tố tụng: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, cụ Phan T nhận chịu số tiên chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nên không đê cập đến.
- Vê án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Vê tố tụng và quan hệ pháp luật tranh châp: Đây là vụ án “Tranh châp dân sự vê quyên sử dụng đât” giữa nguyên đơn cụ Phan T với bị đơn là vợ chồng ông Phan Th, bà Đinh Thị H cùng những người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan là cụ Liễu Thị T, ông Phan Q và bà Lâm Thị H theo quy định tại khoản 9 Điêu 26, Điêu 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã LX nên vụ án Thộc thẩm quyên giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐD theo quy định tại khoản 9 Điêu 26, khoản 1 Điêu 35, khoản 3 Điêu 36 và khoản 1 Điêu 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vê đối tượng tranh châp: Theo lời trình bày của các bên đương sự tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa đêu xác định các bên chỉ tranh châp với nhau diện tích đât 1.465m2 (đo đạc thực tế gồm các thửa: thửa 1/336 diện tích 116m2, thửa 1/337 diện tích 88m2, thửa 1/691 diện tích 283m2 tờ bản đồ số 18 và thửa 1/94 diện tích 978m2 tờ bản đồ số 20 toạ lạc tại xã LX theo sơ đồ đo vẽ do Chi nhánh văn phòng đăng ký đât đai lập ngày 24/6/2021). Riêng diện tích đât 14m2 thửa 1/95 tờ bản đồ số 20 Thộc đường đât hiện trạng nguyên đơn không có tranh châp với bị đơn nên không đê cập đến vân đê giải quyết.
Theo nguyên đơn cho biết diện tích đât 1.465m2 (đo đạc thực tế gồm các thửa: thửa 1/336 diện tích 116m2, thửa 1/337 diện tích 88m2, thửa 1/691 diện tích 283m2 tờ bản đồ số 18 và thửa 1/94 diện tích 978m2 tờ bản đồ số 20 toạ lạc tại xã LX có nguồn gốc là do Tập đoàn sản xuât KTM CS giao cho cụ Phan T và cụ Liễu Thị T từ năm 1985. Bị đơn ông T và bà H cũng thừa thừa nhận nguồn gốc phần đât tranh châp là do Tập đoàn sản xuât KTM CS giao cho cụ T và cụ Th nhưng cũng cho rằng năm 1996 cụ T và cụ Th cho vợ chồng ông bà toàn bộ phần đât 1.465m2 nói trên và ông bà đã sử dụng cho đến nay.
Tại biên bản hòa giải tranh châp đât đai tại UBND xã LX thì ông Trần Công T và ông Văn Thái M nguyên là tập đoàn trưởng xác nhận tập đoàn có giao đât cho gia đình cụ Phan T từ năm 1985. Cũng tại biên bản xác minh ngày 28/4/2022 thì ông M còn cho biết Tập đoàn đã giải thể từ năm 1992. Vào thời điểm đó thì tập đoàn được nhà nước giao đât. Các thành viên sản suât trên đât của tập đoàn phải đóng sản lượng cho tập đoàn. Riêng phần đât hiện nay có tranh châp giữa cụ T với ông T, bà H thì tập đoàn có quản lý nhưng chưa sử dụng vì đât còn rộng. Cụ T và cụ T xin sử dụng để sản suât tăng Th nhập để nuôi con thì tập đoàn không Th sản lượng để tránh lãng phí đât đai. Sau này tập đoàn giải thể thì không quản lý phần đât trên nữa. Ai đang sử dụng đât thì tiếp tục sử dụng và tự khai để đăng ký câp giây chứng nhận QSD đât.
Theo bị đơn thì khi giao cho mình sử dụng phần đât trên thì cụ T và cụ T đã hứa để ông bà sử dụng và sau này sẽ cho con ruột của ông bà là cháu Phan Đình T. Cụ T và cụ T đã hứa thì phải thực hiện nên ông bà không đồng ý trả lại đât cho cụ T và cụ T. Theo ý kiến của cụ T và cụ T thì các cụ chỉ cho ông T và bà H mượn diện tích đât tranh châp nói trên để sử dụng canh tác để có tiên nuôi con ăn học chứ không có nói là cho luôn hay cho cháu T. Ông T và bà H cũng không có tài liệu chứng cứ gì thể hiện cụ T và cụ T đã cho ông bà hoặc cháu T diện tích đât nói trên. Mặt khác, cũng theo biên bản hòa giải tranh châp đât đai tại UBND xã LX thì khi cụ Phan T yêu cầu ông Phan Th và bà H trả lại diện tích đât nói trên thì ông Phan Th đã đê nghị hỗ trợ cho cụ T, cụ T 40.000.000đ để mình được quyên sử dụng phần đât trên. Điêu đó có thể thây tài sản không phải của ông T và bà H thì ông bà mới có thiện chí đưa ra đê nghị này để mình tiếp tục được quyên sử dụng diện tích đât tranh châp nên chỉ có thể khẳng định cụ T và cụ Th cho ông Phan Th và bà Đinh Thị H mượn diện tích đât tranh châp nói trên để sử dụng chứ không phải cho đât.
Theo sơ đồ đo vẽ hiện trạng thửa đât ngày 24/6/2021 có 14m2 Thộc thửa 1/95, tờ bản đồ sô 20 xã LX. Theo đại diện nguyên đơn thì phần đât này Thộc đường đât hiện trạng, nguyên đơn không có tranh châp gì với bị đơn nên không đê cập đến.
Theo biên bản xác minh ngày 21/3/2021 và 28/4/2022 tại Uỷ ban nhân dân xã LX thì diện tích đât 978m2 thửa 1/94, 283m2 thửa 1/691, 116m2 thửa 336 từ trước đến nay chưa có ai đăng ký câp giây chứng nhận QSD đât. Nguồn gốc các thửa đât trên do Tập đoàn sản suât KTM CS phân bổ cho các thành viên của tập đoàn sản suât theo sự quản lý của Tập đoàn. Sau khi tập đoàn giải thể thì các thành viên tập đoàn tiếp tục quản lý, sử dụng chứ UBND xã không quản lý diện đât công. Nếu xác định ai là người sử dụng đât hợp pháp và có đăng ký thì đủ điêu kiện câp giây chứng nhận QSD đât.
Theo công văn số 715/CNĐDU ngày 09/12/2021 của của Chi nhánh văn phòng đăng ký đât đai huyện ĐD xác định diện tích đât 116m2 thửa 1/336 (ông T và bà H đang canh tác) chưa được câp giây chứng nhận QSD đât cho tổ chức, hộ gia đình hay cá nhân nào. Diện tích đât 88m2 thửa 1/337 đã được câp giây chứng nhận QSD đât cho ông Phan Q (ông T và bà H đang canh tác). Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông Phan Q không có tranh châp gì với nguyên đơn và bị đơn vê các phần đât này nên không đê cập đến.
Người có quyên lợi nghịa vụ liên quan bà Lâm Thị H cũng không có tranh châp gì với nguyên đơn và bị đơn trong vụ án này nên không đê cập đến.
Từ các căn cứ trên có thể khẳng định diện tích đât 1.465m2 (đo đạc thực tế gồm các thửa: thửa 1/336 diện tích 116m2, thửa 1/337 diện tích 88m2, thửa 1/691 diện tích 283m2 tờ bản đồ số 18 và thửa 1/94 diện tích 978m2 tờ bản đồ số 20 toạ lạc tại xã LX là tài sản chung của nguyên đơn cụ Phan T cùng người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan là cụ Liễu Thị T. Việc cụ Phan T khởi kiện yêu cầu ông Phan Th và bà Đinh Thị H trả lại diện tích đât 1.465m2 nêu trên là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án, cụ Liễu Thị T tuy không có yêu cầu khởi kiện nhưng khi đại diện cho nguyên đơn cụ cũng yêu cầu bị đơn trả lại cho vợ chồng cụ diện tích đât tranh châp nên được xác định có cùng yêu cầu khởi kiện và tham gia tốt tụng cùng với nguyên đơn. Do xác định phần đât 1.465m2 là tài sản chung của cụ T và cụ Th nên cần buộc bị đơn ông Phan Th và bà Đinh Thị H trả lại cho nguyên đơn cụ Phan T và người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan cụ Liễu Thị T diện tích đât này để cụ T và cụ Th đăng ký câp giây chứng nhận QSD đât là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vê chi phí tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn nhận chịu số tiên chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiên này nên không xem xét đến.
Vê án phí dân sự sơ thẩm: Theo kết quả định giá tài sản ngày 24/01/2022 thì diện tích đât tranh châp có giá là thị trường là 350.000đ/m2. Như vậy 1.465m2 đât tranh châp có giá là 512.750.000đ. Căn cứ vào Khoản 1 Điêu 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội buộc bị đơn phải chịu số tiên án phí dân sự sơ thẩm trên giá trị diện tích đât tranh châp nói trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điêu 203 Luật đât đai năm 2003; Áp dụng Điêu 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 9 Điêu 26, Điêu 34, khoản 3 Điêu 36, khoản 1 Điêu 39, Điêu 144, Điêu 146, Điêu 147, Điêu 220, Điêu 227, Điêu 228, Điêu 273 của bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội.
1. Châp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Phan T.
Buộc bị đơn ông Phan Th và bà Đinh Thị H phải trả cho nguyên đơn cụ Phan T và người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan là cụ Liễu Thị T diện tích đât 1.465m2 (đo đạc thực tế gồm các thửa: thửa 1/336 diện tích thửa 116m2, thửa 1/337 diện tích 88m2, thửa 1/691 diện tích 283m2 tờ bản đồ số 18 và thửa 1/94 diện tích 978m2 tờ bản đồ số 20 toạ lạc tại xã LX, huyện ĐD, T LĐ theo bản vẽ đo đạc hiện trạng thửa đât do Chi nhánh văn phòng đăn ký đât đai lập ngày 24/6/2021 (Sơ đồ này là một phần không thể tách rời của bản án).
Cụ Phan T và cụ Liễu Thị T có nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyên để đăng ký câp giây chứng nhận QSD đât đối với diện tích đât 1.465m2 nói trên theo quy định của pháp luật.
2. Vê án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bị đơn ông Phan Th và bà Đinh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là là 24.510.000 đồng. Nguyên đơn cụ Phan T là người cao tuổi, được miễn tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm nên không đê cập đến.
3. Vê quyên kháng cáo:
Các đương sự có quyên làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân T LĐ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điêu 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyên thoả Thận thi hành, quyên yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điêu 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân T LĐ; - Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐD; - Chi cục THA dân sự huyện ĐD; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Lê Đình Anh V |