vanban.org

Bản án 10/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 28/01/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng H.

Buộc bị đơn anh Nguyễn Vũ A trả cho bà Phạm Thị Hồng H số tiền vốn vay là 80.000.000 đồng, số tiền lãi là 7.768.800 đồng. Tổng cộng là 87.768.800 đồng (Tám mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi tám ngàn tám trăm đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "án hợp đồng vay Pham Thi Hồng H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng H.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/DS-ST
Ngày: 28-01-2022
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Kiệt.

2. Ông Nguyễn Tất Ái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2021/TLST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2021/QĐXX-ST ngày 13 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1961.

Trú tại: số 128B, Khu phố H, Phường M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

Người đại diện theo ủy quyền: chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1979

Trú tại: số 19/8A, đường G, Phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Theo văn bản ủy quyền ngày 18 tháng 5 năm 2021.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Vũ A, sinh năm 1975.

Trú tại: số 128B, Khu phố H, Phường M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

(Chị H có đơn xin vắng mặt, vắng mặt anh Vũ A)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

 Tại đơn khởi kiện ngày 24 tháng 5 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng H trình bày:

Anh Nguyễn Vũ A vay của bà Phạm Thị Hồng H tổng số tiền là 120.000.000 đồng, lãi suất là 5%, cụ thể:

Ngày 26/12/2020 AL (tức ngày 07/02/2021 DL), anh Vũ A vay số tiền 80.000.000 đồng, thời hạn vay là 02 tháng, có làm biên nhận.

Ngày 10/01/2021 AL (tức ngày 21/02/2021 DL), anh Vũ A vay số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn vay là 45 ngày, không có làm biên nhận.

Sau khi vay tiền, anh Vũ A chưa trả cho bà H khoản tiền lãi cũng như khoản nợ gốc nào. Đến hạn thanh toán, bà H nhiều lần yêu cầu anh Vũ A trả lại tiền cho bà, nhưng anh Vũ A không thực hiện. Nay bà H yêu cầu anh Vũ A trả cho bà số tiền vốn gốc là 120.000.000 đồng và tiền lãi là 1,66%/tháng, kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm, cụ thể:

Số tiền 80.000.000 đồng tính lãi kể từ ngày 07/02/2021 DL, tạm tính đến ngày nộp đơn khởi kiện là 03 tháng = 1.328.000 đồng/tháng x 3 = 3.984.000 đồng.

Số tiền 40.000.000 đồng tính lãi kể từ ngày 21/02/2021 DL, tạm tính đến ngày nộp đơn khởi kiện là 03 tháng = 664.000 đồng/tháng x 3 = 1.992.000 đồng.

Ngày 27 tháng 01 năm 2022, chị Nguyễn Thị Mỹ H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu anh Nguyễn Vũ A trả số tiền vốn là 40.000.000 đồng, chỉ yêu cầu anh Vũ A trả số tiền vốn 80.000.000 đồng theo biên nhận và yêu cầu được tính lãi với lãi suất là 0.83%/tháng, số tiền lãi tính đến ngày 28/01/2022 là 7.768.800 đồng

 Bị đơn anh Nguyễn Vũ A được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bản tự khai để trình bày ý kiến.

 Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hồng H về việc buộc bị đơn anh Nguyễn Vũ A trả cho bà Phạm Thị Hồng H số tiền vốn vay là 80.000.000 đồng, số tiền lãi là 7.768.800 đồng. Tổng cộng là 87.768.800 đồng. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Phạm Thị Hồng H yêu cầu anh Nguyễn Vũ A trả số tiền vốn là 40.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng H với bị đơn anh Nguyễn Vũ A là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Mỹ H có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị H theo quy định. Bị đơn là anh Nguyễn Vũ A được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh Vũ A theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Mỹ H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu anh Nguyễn Vũ A trả số tiền vốn là 40.000.000 đồng, chỉ yêu cầu anh Vũ A trả số tiền vốn 80.000.000 đồng theo biên nhận và yêu cầu được tính lãi với lãi suất là 0.83%/tháng, số tiền lãi tính đến ngày 28/01/2022 là 7.768.800 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 87.768.800 đồng, trả làm 01 lần ngay khi án có hiệu lực.

Xét yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Hồng H đối với việc yêu cầu anh Nguyễn Vũ A trả số tiền vốn là 40.000.000 đồng, việc rút yêu cầu là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Phạm Thị Hồng H yêu cầu anh Nguyễn Vũ A trả số tiền vốn là 40.000.000 đồng.

Xét khoản vay 80.000.000 đồng: Tại giấy mượn tiền đề 26 al tháng 12 năm 2020 có nội dung như sau “Tôi tên Nguyễn Vũ A …… Tôi có mượn của (anh/chị) Phạm Thị Hồng H số tiền là 50 triệu góp, 30 triệu đứng (Bằng chữ Tổng cộng 80.000.000 triệu). Tôi hứa sẽ tự nguyện trả đủ trong thời hạn 2 tháng cho anh/chị. Tám mươi triệu đồng chẵn. Nếu có gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Giấy mượn tiền tại phần Người mượn tiền có chữ ký và ghi họ tên Nguyễn Vũ A.

Xét thấy, theo nội dung thỏa thuận trong giấy mượn tiền nêu trên thì ngày 26/12/2020 AL (tức ngày 07/02/2021 DL) anh Vũ A có vay của bà H số tiền 80.000.000 đồng, không thỏa thuận về phần lãi suất, thời hạn vay là 02 tháng. Tuy nhiên, theo bà H trình bày sau khi vay thì anh Vũ A không trả tiền lãi và tiền nợ gốc là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do đó việc bà H yêu cầu anh Vũ A trả lại số tiền vốn là 80.000.000 đồng theo biên nhận và yêu cầu được tính lãi với lãi suất là 0.83%/tháng, số tiền lãi tính đến ngày 28/01/2022 là 7.768.800 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 87.768.800 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: anh Nguyễn Vũ A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 92, 147, 244, 271, 273, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng H.

Buộc bị đơn anh Nguyễn Vũ A trả cho bà Phạm Thị Hồng H số tiền vốn vay là 80.000.000 đồng, số tiền lãi là 7.768.800 đồng. Tổng cộng là 87.768.800 đồng (Tám mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi tám ngàn tám trăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Phạm Thị Hồng H yêu cầu anh Nguyễn Vũ A trả số tiền vốn là 40.000.000 đồng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Vũ A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.388.440 đồng.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ