vanban.org

Bản án 10/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 29/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng án lệ số 08/2016/AL, đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên V - Chi nhánh Kon T đơn đề ngày 25/8/2021. Buộc ông Nguyễn Ngọc C phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên V

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng án lệ số 08/2016/AL, đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KON T
TỈNH KON T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2022/DS-ST
Ngày 29/4/2022
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON T, TỈNH KON T

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Nghiên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Quang Ngọc

2. Bà Chế Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đỗ Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon T, tỉnh Kon T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon T, tỉnh Kon T tham gia phiên tòa: Ông Trần Bá Tài – Kiểm sát viên.

Ngày 29/4/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố KonTum, tỉnh KonTum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:137/2021/TLST-DS ngày 11/10/2021 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng’’ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-DS ngày 11/02/2022 và các Quyết định hoãn phiên tòa ngày 10/3/2022, ngày 08/4/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên V.

Địa chỉ: Tầng 1,3,4,5,6 Tòa nhà Thaiholldinhs Tower, số 210 Trần Quang Khải, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S - Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công T - Giám đốc Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên V - Chi nhánh Kon T.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Dương Văn M; chức vụ: Phó trưởng phòng, phòng hỗ trợ hoạt động Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên V - Chi nhánh Kon T (Có mặt).

Địa chỉ: 72 Lê Hồng P, thành phố Kon T, tỉnh Kon T.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1971

Địa chỉ: Số 01 Phan Chu T, thành phố Kon T, tỉnh Kon T. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 25/8/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/9/2017 Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên V - Chi nhánh Kon T (Sau đây gọi tắt là: Ngân hàng) đã ký kết hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Ngọc C trú tại số 01 Phan Chu Trinh, thành phố Kon T, tỉnh Kon T hợp đồng số HDTD6402017379. Nội dung hợp đồng thỏa thuận ông Nguyễn Ngọc C vay của Ngân hàng số tiền 200.000.000 đ (Hai trăm triệu đồng), thời gian vay 60 tháng tính từ ngày 01/9/2017 đến 01/9/2021, lãi suất cho vay trong hạn là 11,85%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm. Về số tiền và kỳ hạn trả nợ 3.340.000 đ/kỳ, trả trong 60 kỳ trả vào ngày 20 hàng tháng, về lãi trả ngày 20 hàng tháng, ngày trả nợ gốc và lãi đầu tiên 20/9/2017.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Cương đã trả được số tiền nợ gốc là 45.944.474 đồng sau đó ngừng việc trả nợ gốc và lãi. Ngân hàng đã thông báo nhiều lần nhưng ông Cương không hợp tác làm việc nên ngày 30/6/2019 Ngân hàng đã chuyển món vay sang nợ quá hạn (nhóm 5) và sau đó làm đơn khởi kiện để thu hồi nợ.

Tại phiên tòa Ngân hàng giữ nguyên đơn khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Ngọc C phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/4/2022 là 154.055.526 đ (Một trăm năm mươi bốn triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm hai sáu đồng).

Trong đó: tiền nợ gốc là: 109.434.359 đồng, tiền lãi quá hạn là 15.482.053 đồng, tiền lãi chậm trả gốc là 25.459. 305 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 3.679. 809 đồng và tiền lãi suất phát sinh cho đến khi trả hết nợ.

- Ý kiến của bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc C: Không.

Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần đến nhà để tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Ngọc C nhưng ông thường xuyên vắng nhà. Tòa án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương, thì xác định được: Ông Nguyễn Ngọc C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: số 01 Phan Chu Trinh, thành phố Kon T, tỉnh Kon T. Tuy nhiên hiện nay ông Cương thường xuyên vắng mặt nơi cư trú, chính quyền địa phương không biết nơi ở mới của gia đình ông Cương. Do đó Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng của Tòa án tại nơi cư trú của ông Cương, để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon T tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật; Đối với đương sự ông Cương, kết quả xác minh cho thấy hiện ông Cương đi khỏi nơi cư trú, chính quyền địa phương không biết địa chỉ mới. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án tại nơi cư trú của ông Cương đúng theo quy định, tại phiên tòa hôm nay ông Cương vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên đề nghị Tòa tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của BLTTDS.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 280, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận đơn khởi kiện của ngân hàng, buộc ông Nguyễn Ngọc C phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/4/2022 là 154.055.526 đ (Một trăm năm mươi bốn triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm hai sáu đồng), trong đó: tiền nợ gốc là 109.434.359 đồng, tiền lãi quá hạn là 15.482.053 đồng, tiền lãi chậm trả gốc là 25.459. 305 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 3.679. 809 đồng và tiền lãi suất phát sinh cho đến khi ông Cương trả hết nợ và buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng:

- Ngân hàng khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Ngọc C, tại thời điểm thụ lý thì ông Nguyễn Ngọc C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số 01 Phan Chu Trinh, thành phố Kon T, tỉnh Kon T. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Kon T, tỉnh Kon T.

- Bị đơn ông Nguyễn Ngọc C không có yêu cầu phản tố và không có người đại diện tham gia phiên tòa, đã được Tòa án thông báo và triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Cương.

[2].Về nội dung:

Xét Hợp đồng tín dụng số HDTD6402017379 ngày 01/9/2017 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 01/9/2017. Nội dung hợp đồng thỏa thuận ông Nguyễn Ngọc C vay của Ngân hàng số tiền 200.000.000 đ (Hai trăm triệu đồng), thời gian vay 60 tháng tính từ ngày 01/9/2017 đến 01/9/2021, lãi suất cho vay trong hạn là 11,85%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm. Về số tiền và kỳ hạn trả nợ 3.340.000 đ/kỳ, trả trong 60 kỳ trả vào ngày 20 hàng tháng, về lãi trả ngày 20 hàng tháng, ngày trả nợ gốc và lãi đầu tiên 20/9/2017. Hợp đồng này sau khi ký kết có hiệu lực thi hành làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông Cương đã trả được số tiền nợ gốc là 45.944.474 đồng, sau đó không thực hiện việc trả nợ gốc và lãi tiếp theo nên ngày 30/6/2019 ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn. Như vậy, ông Cương đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và lãi theo quy định tại Điều 280, 466 Bộ luật dân sự, do đó việc Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ. Hội đồng xét xử, xét chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên V buộc ông Nguyễn Ngọc C phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/4/2022 là 154.055.526 đ (Một trăm năm mươi bốn triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm hai sáu đồng), trong đó: tiền nợ gốc là: 109.434.359 đồng, tiền lãi quá hạn 15.482.053 đồng, tiền lãi chậm trả gốc là 25.459. 305 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 3.679. 809 đồng và tiền lãi suất phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/4/2022) cho đến khi trả hết nợ là phù hợp với quy định tại các Điều 280, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.

[3] Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là 5% x 154.055.526 đ = 7.702.776 đồng; Đối với Nguyên đơn về yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên được hoàn trả lại tiền nộp tạm ứng phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 280, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng án lệ số 08/2016/AL, đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên V - Chi nhánh Kon T đơn đề ngày 25/8/2021.

2. Buộc ông Nguyễn Ngọc C phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên V

- Chi nhánh Kon T số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/4/2022 là 154.055.526 đ (Một trăm năm mươi bốn triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm hai sáu đồng), trong đó: tiền nợ gốc là: 109.434.359 đồng, tiền lãi quá hạn 15.482.053 đồng, tiền lãi chậm trả gốc là 25.459. 305 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 3.679. 809 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (30/4/2022) ông Nguyễn Ngọc C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng số HDTD6402017379 ngày 01/9/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3.Về án phí: Áp dụng Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Ông Nguyễn Ngọc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 7.702.776 đ (Bảy triệu, bảy trăm linh hai nghìn, bảy trăm bảy sáu đồng).

Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên V số tiền đã nộp tạm ứng án phí 3.474.000 đ ( Ba triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai số 0000357 ngày 04/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự tành phố Kon T, tỉnh Kon T.

4. Áp dụng Điều 271; Điều 273, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/4/2022) Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ