vanban.org

Bản án 10/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

* Áp dụng điểm n Khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s Khoản Điều 5 Bộ luật hình sự năm 20 5 (đã sửa đổi, bổ sung năm 20 7); Đặng Duy K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Đặng Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 10/2021/HSST
Ngày: 14/01/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phan Trọng Bình;

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh;

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tường Vi là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Lan là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 14 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/2020/HSST ngày 26 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐẶNG DUY K; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8 2; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 116/55/14 T, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở khi bị bắt: 42 2 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đặng Tấn P, sinh năm 965 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 962; Nhân thân: Ngày 12/9/2011 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2020;

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 0 6 2020 Từ Quốc M đang ở khu vực đường Lũy Bán Bích, quận Tân Phú thì Phan Phú T gọi điện thoại rủ qua nhà T chơi và để T trả tiền cho M, M đồng ý và điều khiển xe biển số 59T2- 98.38 qua nhà T ở đường Tân Hòa Đông, Quận 6, tại đây T nhờ M chở qua nhà bạn của T thì M đồng ý. Khi T chở M đến nhà của Đặng Duy K tại địa chỉ 42 2 L, phường T, quận T thì M ngồi ở ngoài chờ còn T vào trong nhà, khoảng 0 phút sau T quay ra treo vào móc trên phần để chân của xe máy 0 bịch nylon màu đỏ (M cũng không kiểm tra) và M điều khiển xe đi tìm khách sạn thuê để ngủ, khi đi đến trước số 275 Kênh T, phường H, quận T thì bị Công an kiểm tra hành chính phát hiện bịch nylon treo trên xe bên trong có 0 gói nylon chứa tinh thể không màu nghi là ma túy nên tiến hành thu giữ.

Qua truy xét đến khoảng 0 giờ 00 phút ngày 02 6 2020, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Tân Phú tiến hành kiểm tra hành chính đối với Đặng Duy K, P và tiến hành khám xét nơi ở của Đặng Duy K tại nhà số 42 2 L, phường T, quận T thu giữ tại phòng ngủ của K có 0 gói ma túy đá, 0 gói ma túy khay và 02 gói nylon chứa tổng cộng 38 viên ma túy thuốc lắc.

Tại Cơ quan điều tra Đặng Duy K khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình;

K khai nhận: Bản thân K sử dụng ma túy khoảng 0 tháng, loại ma túy K sử dụng là ma túy đá, thuốc lắc và ma túy khay. K mua ma túy của môt thanh niên tên Tuấn (không rõ lai lịch) cách đây khoảng tuần, tại khu vực đường Nguyễn Ảnh Thủ, huyện Hóc Môn với giá 2.500.000 đồng K đã sử dụng một ít, số còn lại bị Công an khám xét thu giữ đây là lần đầu K mua ma túy của Tuấn về để sử dụng;

Đối với gói ma túy khay và 38 viên ma túy thuốc lắc do một thanh niên tên Sang (không rõ lai lịch) đưa cho K tại khu vực đường Nguyễn Ảnh Thủ, huyện Hóc Môn cách khoảng 03 ngày trước để sử dụng thử nếu K sử dụng được thì Sang sẽ báo giá sau. Đây là lần đầu Sang đưa ma túy cho K để sử dụng thử.

Đối với số ma túy Công an thu giữ của Từ Quốc M, K khai không biết cũng như không nhờ T đưa bịch nylon gì cho M. K không quen biết M.

Đối với Phan Phú T khai: Khoảng 23 giờ ngày 0 6 2020 T điện thoại cho M đến phòng thuê của T chơi tại địa chỉ phòng 6A, lầu 6, số 74Bis T, phường M, Quận S. Tại đây T và M cùng sử dụng ma túy chung tại khu vực sân thượng kế bên phòng thuê của T, thì Đặng Duy K gọi điện thoại kêu T qua nhà K tại nhà số 42 2 L, phường T, quận T. Khi đến nơi thì M đứng ở ngoài còn T vào trong nhà K thì K đưa cho T 0 bịch nylon màu đỏ nhờ T đưa cho M, thì T cầm bịch nylon đi ra chỗ M đứng treo vào móc xe của M rồi M chạy xe đi (T không kiểm tra bên trong) còn T quay vào nhà K. Sau đó thì T nhờ K chở về dùm thì bị Công an kiểm tra hành chính đưa về trụ sở làm việc. T hoàn toàn không biết bịch nylon K nhờ T đưa hộ cho M chứa gì bên trong. T cũng không mua bán ma túy với K và M.

Đối với Từ Quốc M khai nhận: M quen biết T từ nhỏ do ở cùng xóm, việc T nhờ M chở đến nhà K để làm gì thì M không biết và M không biết bên trong bịch nylon T nhờ giữ giùm chứa gì bên trong, M có sử dụng ma túy. Tiến hành đối chất giữa T và M thì cả T và M đều không biết bên trong gói nylon có ma túy, T không thừa nhận treo gói nylon trên xe M và kêu M giữ hộ. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Tân Phú đã chuyển hồ sơ cùng vật chứng thu giữ của Từ Quốc M cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra (PC04) Công an Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý điều tra trong một vụ án khác.

Theo kết luận giám định số 938 KLGĐ-H ngày tháng 6 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh:

- Gói 1:

+ Ba mươi bốn (34) viên nén màu xanh được được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng: ,6626g loại MDMA.

+ Bốn (04) viên nén màu xanh được ký hiệu mẫu m2 cần giám định cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tkhối lượng: 0,9035g loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine;

+ Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m3 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 3,3764g loại Ketamine;

- Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu m4 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 5,0524g loại Methamphetamine.

* Vật chứng thu giữ của Đặng Duy K:

- Hai (02) gói niêm phong số 938 bên ngoài có chữ ký ghi tên Giám định viên, Điều tra viên, cán bộ ghi biên bản Bùi Công Danh, Lê Thanh Long, Nguyễn Tiến Độ;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, trắng; Imei: 358223/01/2748449/3, K khai sử dụng để liên lạc mua ma túy;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng; Imei: 35303909 446246; K khai không sử dụng liên lạc mua ma túy;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; Imei: 3558 2092302487; K khai không sử dụng liên lạc mua ma túy;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen; điện thoại bị bể màn hình không sử dụng được, K khai không sử dụng liên lạc mua ma túy;

- Một (01) điện thoại di động không nhãn hiệu màu trắng; Imei : 355420910054197; Imei2: 355420910054205; số thuê bao Sim : 0783294xxx, K khai không sử dụng liên lạc mua ma túy;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh; Imei: 359002092292880; K khai không sử dụng liên lạc mua ma túy;

- Một số bọc nylon rỗng;

- Một (01) cân điện tử không nhãn hiệu màu xanh trắng;

- Một (01) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá;

- Một (01) bộ dụng cụ sử dụng ma túy;

- Số tiền 20.000.000 đồng là tiền trong bóp của K (trong đó có 3.000.000 đồng là tiền T trả cho K).

- Số tiền 285.000.000 đồng thu giữ trong cốp xe của K, K cho biết số tiền trên là của bà Nguyễn Thị Thu H (mẹ ruột của K) đưa cho K để trả tiền mua thịt heo của anh Đỗ Quốc T làm nghề bán thịt heo tại chợ đầu mối huyện H. Tiến hành làm việc bà H xác định ngày 0 6 2020 bà đã đưa cho K số tiền 285.000.000 đồng để trả cho T. Tiến hành làm việc với anh Đỗ Quốc T thừa nhận bà H đang còn nợ số tiền như trên chưa thanh toán, việc K vi phạm pháp luật ông T không biết và cũng không liên quan. Cơ quan Cảnh Sát Điều tra Công an quận Tân Phú đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại số tiền 285.000.000 đồng cho bà H.

- Một (01) hộp giấy màu đen;

- Một (01) xe máy hiệu Honda SH mode màu xanh, biển số 59T2-291.51; số máy KF08E-0119291-KTGE1; số khung ZDCKF08A07F 85 20. Qua giám định tại phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả số khung, số máy nguyên thủy. Xác minh nguồn gốc chiếc xe trên do ông Phan Thanh T, địa chỉ: 5 50D T, phường N, Quận M là chủ sở hữu. Tiến hành làm việc với ông T cho biết đã ủy quyền cho ông Nguyễn Trường S, địa chỉ Mộ Phong, Mộ Đức, Quãng Ngãi toàn quyền sử dụng, mua bán, tặng cho đối với xe máy trên. Tiến hành làm việc với ông S cho biết đã bán xe anh Trần Đình Q, địa chỉ 95 22 H, phường P, quận T. Tiến hành làm việc với anh Q cho biết khoảng 6 giờ 00 phút ngày 0 6 2020 có cho Đặng Duy K mượn xe để đi công việc. Việc K vi phạm pháp luật anh Q hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh Sát Điều tra Công an quận Tân Phú đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại xe máy trên cho anh Trần Đình Q;

Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 246/PNK ngày 10 9 2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú.

Tại bản cáo trạng số 170/CT-VKSQTP ngày 25 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Duy K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 20 5 (được sửa đổi, bổ sung năm 20 7);

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đặng Duy K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 20 5 (được sửa đổi, bổ sung năm 20 7), đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm tù, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Đặng Duy K đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[ ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận lúc 0 giờ 00 phút ngày 02 tháng 6 năm 2020 Đặng Duy K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại MDMA có khối lượng 11,6626 gam; Methamphetamine có khối lượng 5,0524 gam; Ketamine khối lượng có 3,3764 gam và MDMA, Methamphetamine, Ketamine có khối lượng 0,9035 gam với tổng khối lượng 30,9949 tại nhà số 42 2 L, phường T, quận T nhằm mục đích sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm n Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 20 5 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với lượng ma túy thu giữ trên xe của Từ Quốc M là 474,67 gram ma túy loại Methamphetamine, hiện Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố và đang tiếp tục điều tra sẽ xử lý sau trong một vụ án khác.

Đối với hành vi đá gà của T, K và M, quá trình điều tra không đủ cơ sở để chứng minh T, K và M có hành vi “Đánh bạc” nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Tân Phú không xử lý đối với T, K và M về hành vi “Đánh bạc”.

Đối với người thanh niên tên Tuấn bán ma túy cho K quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở làm việc.

Đối với người thanh niên tên Sang bán ma túy cho K quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở làm việc.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Duy K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra còn làm gia tăng các tệ nạn xã hội và là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Bản thân bị cáo nhận thức được ma túy đá (ma túy tổng hợp) là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng bị Nhà nước nghiêm cấm và bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo;

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án tương xứng mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Không có;

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s Khoản Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 20 7).

Về xử lý vật chứng:

- Hai (02) gói niêm phong số 938 bên ngoài có chữ ký ghi tên Giám định viên, Điều tra viên, cán bộ ghi biên bản Bùi Công Danh, Lê Thanh Long, Nguyễn Tiến Độ. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số ma túy còn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, trắng; Imei: 358223/01/2748449/3, K khai sử dụng để liên lạc mua ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

- Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; Imei: 3558 2092302487; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng; Imei: 35303909 446246; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen; điện thoại bị bể màn hình không sử dụng được, một (01) điện thoại di động không nhãn hiệu màu trắng; Imei : 3554209 0054 97; Imei2: 3554209 0054205; Số thuê bao Sim : 0783294xxx; một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh; Imei: 359002092292880 và số tiền 20.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

- Một số bọc nylon rỗng; một (01) cân điện tử không nhãn hiệu màu xanh trắng; một (01) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; một (01) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; một (01) hộp giấy màu đen. Hội đồng xét xử xét thấy đây là những vật bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 246/PNK ngày 10/9/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh)

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, không có nghề nghiệp ổn định nên không xử phạt bổ sung đối với bị cáo;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đặng Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

* Áp dụng điểm n Khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s Khoản Điều 5 Bộ luật hình sự năm 20 5 (đã sửa đổi, bổ sung năm 20 7);

Xử phạt:

Đặng Duy K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/6/2020;

Miễn khoản tiền phạt bổ sung đối với bị cáo;

* Áp dụng Điều 06; Khoản 2 Điều 36; Điều 33 ; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 20 5; điểm a Khoản Điều 23 của Nghị quyết số 326 20 6 UBTVQH 4 ngày 30 2 20 6 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tịch thu tiêu hủy: Hai (02) gói niêm phong số 938 bên ngoài có chữ ký ghi tên Giám định viên, Điều tra viên, cán bộ ghi biên bản Bùi Công Danh, Lê Thanh Long, Nguyễn Tiến Độ; Một số bọc nylon rỗng; một (01) cân điện tử không nhãn hiệu màu xanh trắng; một (01) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; một (01) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; một (0 ) hộp giấy màu đen;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh - trắng có số Imei: 358223/01/2748449/3;

Trả cho bị cáo: một (0 ) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có số Imei: 3558 2092302487; một (0 ) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng có số Imei: 35303909 446246; một (0 ) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen bị bể màn hình không sử dụng được; một (0 ) điện thoại di động không nhãn hiệu màu trắng có số Imei 1 là 355420910054197 và số Imei 2 là 355420910054205 kèm sim số thuê bao 0783294xxx; một (0 ) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh có số Imei: 359002092292880 và số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng;

(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 246/PNK ngày 10/9/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh)

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 5 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ