vanban.org

Bản án 10/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 05/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng L phạm tội "Đánh bạc"; Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng L 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hồng L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 10/2021/HS-ST
Ngày: 05/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Trường Vũ;

2. Bà Ngô Kim Quyên.

Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Hữu Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST-HS ngày 18/10/2021 đối với bị cáo:

Phạm Hồng L, sinh năm 1974; Nơi sinh: An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (chỗ ở hiện nay): Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 05/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn E (chết) và bà Nguyễn Thị H (chết); Vợ Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1977; Có 02 (hai) người con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2005.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 16/9/2020, bị Công an thị xã Tân Châu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Đã nộp tiền phạt xong;

Ngày 05/6/2021, Phạm Hồng L thực hiện hành vi đánh bạc tại ấp T, xã H, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Đến ngày 16/8/2021 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp ra quyết định khởi tố bị can.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Nguyễn Văn L, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp L2, xã H, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Võ Văn Bảo L, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Võ Văn M, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khóm A, phường H, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng: Đặng Văn C và Trần Thị Thu H, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 16/7/2021, bị cáo Phạm Hồng L đi đến nhà của Đặng Văn C thuộc khu vực khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang để uống cà phê. Tại đây, bị cáo Hồng L gặp chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn L và anh Võ Văn Bảo L. Lúc này, bị cáo Hồng L cùng với chị Thị L, anh Văn L và anh Bảo L rủ nhau đi đến nhà bà Đặng Thị C thuộc khu vực khóm L, phường S (nhà đóng cửa không ai ở) để chơi đánh bài Tiến lên thắng thua bằng tiền. Bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L và anh Bảo L người cùng thỏa thuận chơi mỗi ván thắng thua là 60.000 đồng, người tới nhất thắng người về bét (thua chót) 40.000 đồng, người tới nhì thắng người tới ba 20.000 đồng. Khi bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L và anh Bảo L đang chơi thì Võ Văn M đi đến xem và hùn vốn với Võ Văn Bảo L 100.000 đồng để chơi đánh bài. Sau đó, bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L và anh Bảo L chơi được khoảng 60 phút thì Công an phường S đến bắt quả tang bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L, anh Bảo L và ông M. Thu giữ trên chiếu bạc 120.000 đồng và 04 (bốn) bộ bài tây. Tại Công an phường S bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L, anh Bảo L và ông M đều thừa nhận đã tham gia chơi đánh bài thắng thua bằng tiền như đã nêu trên.

Ngày 16/9/2020, bị cáo Phạm Hồng L đã bị Công an thị xã Tân Châu, xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”.

Ngày 01/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, khởi tố Phạm Hồng L về tội “Đánh bạc”.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

- 04 (bốn) bộ bài tây, trong đó có 01 bộ (đã qua sử dụng);

- Tiền Việt Nam 1.450.000 đồng (thu tại chiếu bạc 120.000 đồng, thu trên người các đối tượng 1.330.000 đồng (Nguyễn Thị L 500.000 đồng, Phạm Hồng L 190.000 đồng, Nguyễn Văn L 620.000 đồng, Võ Văn Bảo L 20.000 đồng)).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn L, anh Võ Văn Bảo L, ông Võ Văn M; Người làm chứng anh Đặng Văn C, chị Trần Thị Thu H trình bày phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Phạm Hồng L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Cáo trạng số 71/CT-VKSTC ngày 08/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố bị cáo Phạm Hồng L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo L khai nhận hành vi đánh bạc như lời khai đã thể hiện tại giai đoạn điều tra và đúng như nội dung truy tố của Viện kiểm sát.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến.

Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo Phạm Hồng L về tội “Đánh bạc” theo điểm khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Hồng L: từ 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng đến 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt bổ sung, bị cáo L bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Xét, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L.

Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch tiêu hủy: 04 (bốn) bộ bài tây, trong đó có 01 bộ (đã qua sử dụng).

Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 1.450.000 đồng (thu tại chiếu bạc 120.000 đồng, thu trên người các đối tượng 1.330.000 đồng (Nguyễn Thị L 500.000 đồng, Phạm Hồng L 190.000 đồng, Nguyễn Văn L 620.000 đồng, Võ Văn Bảo L 20.000 đồng)).

Đối với mức hình phạt, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Phạm Hồng L bị Công an thị xã Tân Châu khởi tố về hành vi “Đánh bạc” bị bắt quả tang tại khu vực khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn L, anh Võ Văn Bảo L, ông Võ Văn M; Người làm chứng anh Đặng Văn C, chị Trần Thị Thu H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.

- Về nội dung:

Hành vi phạm tội:

Khoảng 12 giờ ngày 16/7/2021, bị cáo Phạm Hồng L đi đến nhà của Đặng Văn C thuộc khu vực khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang để uống cà phê. Tại đây, bị cáo Hồng L gặp chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn L và anh Võ Văn Bảo L. Lúc này, bị cáo Hồng L cùng với chị Thị L, anh Văn L và anh Bảo L rủ nhau đi đến nhà bà Đặng Thị C thuộc khu vực khóm L, phường S (nhà đóng cửa không ai ở) để chơi đánh bài Tiến lên thắng thua bằng tiền. Bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L và anh Bảo L người cùng thỏa thuận chơi mỗi ván thắng thua là 60.000 đồng, người tới nhất thắng người về bét (thua chót) 40.000 đồng, người tới nhì thắng người tới ba 20.000 đồng. Khi bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L và anh Bảo L đang chơi thì Võ Văn M đi đến xem và hùn vốn với Võ Văn Bảo L 100.000 đồng để chơi đánh bài. Sau đó, bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L và anh Bảo L chơi được khoảng 60 phút thì Công an phường S đến bắt quả tang bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L, anh Bảo L và ông M. Thu giữ trên chiếu bạc 120.000 đồng và 04 (bốn) bộ bài tây. Tại Công an phường S bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L, anh Bảo L và ông M đều thừa nhận đã tham gia chơi đánh bài thắng thua bằng tiền như đã nêu trên.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16/07/2021 do Công an phường S, thị xã T lập; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đủ căn cứ xác định bị cáo tham gia đánh bạc với hình thức đánh bài Tiến lên ăn thua bằng tiền, với tổng số tiền thu giữ ngày 16/07/2021 là 1.450.000 đồng (thu tại chiếu bạc 120.000 đồng, thu trên người các đối tượng 1.330.000 đồng (Nguyễn Thị L 500.000 đồng, Phạm Hồng L 190.000 đồng, Nguyễn Văn L 620.000 đồng, Võ Văn Bảo L 20.000 đồng)). Bị cáo L đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhưng bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc nên đã thỏa mãn mặt khách quan của tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc với hình thức đánh bài Tiến lên ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Đánh bạc, trong đó có hình thức đánh bài Tiến lên ăn thua bằng tiền là tệ nạn xã hội gây ra nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội. Bên cạnh, xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự còn quy định đánh bạc là tội phạm và những người vi phạm sẽ bị áp dụng chế tài là hình phạt.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự. Cáo trạng số 72/CT-VKS-HS ngày 08/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo học lực thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Hình phạt:

Về hình phạt chính: Bị cáo L, phạm tội xuất phát từ mục đích thu lợi bất chính từ việc thắng thua trực với những người tham gia đánh bạc. Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Xét, áp dụng mức hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội như quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát.

Hình phạt bổ sung, bị cáo L bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Xét, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Số tiền đánh bạc 1.450.000 đồng (thu tại chiếu bạc 120.000 đồng, thu trên người các đối tượng 1.330.000 đồng (Nguyễn Thị L 500.000 đồng, Phạm Hồng L 190.000 đồng, Nguyễn Văn L 620.000 đồng, Võ Văn Bảo L 20.000 đồng)). Bị cáo Hồng L, chị Thị L anh Văn L, anh Bảo L khai nhận số tiền thu giữ trên người, sử dụng vào việc đánh bạc. Xét tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.

- 04 (bốn) bộ bài tây, trong đó có 01 bộ (đã qua sử dụng) liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị sử dụng. Xét tịch thu tiêu hủy.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 01/11/2021).

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Các vấn đề khác:

Đối với chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn L và anh Võ Văn Bảo L đã cùng với Phạm Hồng L tham gia chơi đánh bài; Ông Võ Văn M hùn tiền với Võ Văn Bảo L để chơi đánh bài vào ngày 16/7/2021. Đây là hành vi, vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã Tân Châu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Thị L, anh Văn L, anh Bảo L và ông M là có căn cứ.

Bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L, anh Bảo L chơi đánh bài Tiến lên thắng thua bằng tiền tại nhà bà C. Tuy nhiên, khi bị cáo Hồng L, chị Thị L, anh Văn L, anh Bảo L chơi đánh bài thì bà C không có mặt tại nhà và không hay biết nên không xử lý bà C về hành vi chứa bạc là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

(Theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng L phạm tội "Đánh bạc";

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng L 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đối với khoản tiền mà bị cáo phải thi hành cho đến khi thi hành xong hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy: 04 (bốn) bộ bài tây, trong đó có 01 bộ (đã qua sử dụng).

- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước:

Số tiền đánh bạc: 1.450.000 đồng (thu tại chiếu bạc 120.000 đồng, thu trên người các đối tượng 1.330.000 đồng (Nguyễn Thị L 500.000 đồng, Phạm Hồng L 190.000 đồng, Nguyễn Văn L 620.000 đồng, Võ Văn Bảo L 20.000 đồng)).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 01/11/2021).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Phạm Hồng L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ