vanban.org

Bản án 10/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Tuyên án 16/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Đình Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2020. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Vũ Đình Đại phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Ý YÊN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HS-ST
Ngày: 16 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn T Tảo.

Bà Trương Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam– Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.

- Đ diện VKSND huyện Ý Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Đình Đ, sinh năm 1996 tại xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn An Thành, xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Con ông Vũ Đức L, sinh năm 1954 và bà Trần Thị L1, sinh năm 1956 đều trú tại thôn An Thành, xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ tư; Bị cáo có vợ: Lường Thị H, sinh năm 2003; con: 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không.

Biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/11/2020 đến ngày 29/11/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ý Yên. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Những người làm chứng:

- Anh Nguyễn Quý T, sinh năm 2003;

Người Đ diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1965 – mẹ đẻ. (vắng

mặt).

- Anh Tạ Văn D, sinh năm 1995; (vắng mặt).

- Anh Trần Phương N, sinh năm 1975; (vắng mặt).

- Anh Bùi Xuân T1, sinh năm 1990; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h 45p ngày 26/11/2020, tổ công tác Công an huyện Ý Yên phối hợp với Công an xã Yên Phúc làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Vĩnh Ninh, xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định phát hiện Vũ Đình Đ, Nguyễn Quý T và Tạ Văn D có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính Nguyễn Quý T đã khai nhận vừa mua của Vũ Đình Đ 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân; T rủ D đi cùng, nhưng không nói cho D biết là đi mua ma túy. Tổ công tác đã thu giữ của Nguyễn Quý T 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M), 01 tờ giấy bạc màu vàng có ghi dãy số 09143664, số tiền 300.000 đồng; thu giữ của Vũ Đình Đ số tiền 157.000 đồng (Đ khai là tiền có được do vừa bán ma túy cho T), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh. Tạm giữ của Vũ Đinh Đ 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen BKS 18D1-453.04, tạm giữ của Tạ Văn D 01 xe máy nhãn hiệu Honda, kiểu xe wave màu đen bạc BKS 18C1-165.66. Tổ công tác đưa các đối tượng về trụ sở UBND xã Yên Phúc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Đình Đ ở thôn An Thành, xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên không thu giữ gì.

Tại kết luận giám định số 1165/GĐKTHS ngày 27/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 gói nilon màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu M: 0,076 gam.

Quá trình điều tra, Vũ Đình Đ khai nhận: Do không có tiền tiêu sài nên Đ nảy sinh ý định tìm mua ma túy về để bán kiếm lời. Qua dò hỏi thông tin, Đ mua được 01 gói ma túy đá của một người đàn ông lạ mặt tại khu vực đê Hữu Đào thuộc địa phận xã Yên Phúc với giá 180.000 đồng, Đ dự định sẽ bán với giá 200.000 đồng. Khoảng 11h ngày 26/11/2020, Đ đang ở nhà thì có số điện thoại gọi đến hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng, Đ đồng ý và hẹn người mua đến Cống Chanh thuộc địa phận thôn Vĩnh Ninh, xã Yên Phúc để mua bán. Đ điều khiển xe mô tô BKS 18D1-453.04 đi ra khu vực đã hẹn, sau khi đứng đợi một lúc thì có 02 thanh niên điều khiển xe máy đi đến. Đ đã đưa gói ma túy cho nam thanh niên điều khiển xe máy và nhận số tiền 500.000 đồng. Do không có tiền trả lại, Đ đã đi đến một cửa hàng tạp hóa mua một quả dưa hấu với giá 43.000 đồng, rồi lấy tiền thừa, quay lại đưa cho nam thanh niên số tiền 300.000 đồng thì bị lực lượng Công an huyện Ý Yên kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên đã tạm giữ của chị Vũ Thị Mai, sinh năm 1978 trú tại thôn Vĩnh Ninh, xã Yên Phúc, huyện Ý Yên (là chủ cửa hàng tạp hóa mà Đ đã mua dưa hấu) 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng số seri TH 09143664 do ngân hàng nhà nước Việt nam phát hành.

Về nguồn gốc số ma túy: Vũ Đình Đ khai mua của một người đàn ông ở khu vực đê Hữu Đào thuộc địa phận xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, nhưng Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên không thể tiến hành điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với những người có hành vi liên quan đến vụ án:

Đối với Nguyễn Quý T là người mua ma túy của Vũ Đình Đ, nhưng khối lượng ma túy không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên đã xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Tạ Văn D là người đi cùng T, nhưng D không biết mục đích T rủ đi để mua ma túy nên không đề cập xử lý.

Về tài sản, đồ vật, tài liệu liên quan trong vụ án:

Đối với chiếc điện thoại di động Nokia vỏ nhựa màu xanh, màn hình đen trắng thu giữ của Vũ Đình Đ, qua điều tra xác định là của Đ, không sử dụng vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Quý T, qua điều tra xác định là tiền riêng của T không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YamahaExciter màu đỏ đen BKS 18D1 - 453.04 là xe máy của Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội, Đ đề nghị được giao lại cho bố đẻ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên đã trả lại cho ông Vũ Đức Lương là bố đẻ của Đ theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave màu đen bạc BKS 18C1-165.66 thu giữ của anh Tạ Văn D, qua điều tra xác định là của vợ chồng anh D, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên đã trả lại cho anh D theo quy định.

Đối với tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng số seri TH 09143664 tạm giữ của chị Vũ Thị M chủ quán tạp hoá, là tờ tiền mà T dùng để mua 200.000 đồng gói ma tuý của Đ, sau đó Đ mang tờ tiền này đến quán chị Mai để đổi tiền lẻ trả lại cho T. Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ý Yên chứng minh tờ tiền trên liên quan đến vụ án nhưng không phải là vật chứng của vụ án. Do vậy Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên đã trả lại cho chị M theo quy định.

Tại cơ quan điều tra Vũ Đình Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 09/Ctr - VKS- YY ngày 29/01/2021 của VKSND huyện Ý Yên truy tố bị cáo Vũ Đình Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đ diện VKSND huyện Ý Yên trình bày quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Vũ Đình Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Vũ Đình Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý được hoàn lại sau giám định và 01 mảnh giấy bạc màu vàng bên trong ghi dãy số 09143664 là vật chứng vụ án.

Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 157.000 đồng thu giữ của Vũ Đình Đ, là tiền Đ bán ma tuý mà có.

Đề nghị trả lại cho Vũ Đình Đ chiếc điện thoại di động Nokia vỏ nhựa màu xanh, màn hình đen trắng số seri 356340050302603 do không sử dụng vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy.

Đề nghị trả lại cho Nguyễn Quý T số tiền 300.000 đồng là tiền riêng của T không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay. Lời khai phù hợp với lời khai người làm chứng; biên bản về việc bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11h45p ngày 26/11/2020 tại khu vực Cống Chanh thuộc địa phận thôn Vĩnh Ninh, xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Vũ Đình Đ đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy là Methamphetamine có khối lượng 0,076 gam mục đích để kiếm lời thì bị lực lượng Công an huyện Ý Yên bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng của VKSND huyện Ý Yên đã truy tố là đúng pháp luật.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm T tới tính mạng, sức khỏe con người, làm băng hoại đến giá trị chuẩn mực đạo đức trong đời sống nhân dân. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, công việc không ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cần tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý được hoàn lại sau giám định và 01 mảnh giấy bạc màu vàng bên trong ghi dãy số 09143664 là vật chứng vụ án.

Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 157.000 đồng thu giữ của Vũ Đình Đ, là tiền do Đ bán ma tuý mà có.

Cần trả lại cho Vũ Đình Đ chiếc điện thoại di động Nokia vỏ nhựa màu xanh, màn hình đen trắng số seri 356340050302603 do không sử dụng vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy. Đ có đề nghị được giao lại chiếc điện thoại này cho bố đẻ là ông Vũ Đức Lương, sinh năm 1954 trú tại thôn An Thành, xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nhận lại và quản lý cho Đ.

Cần trả lại cho Nguyễn Quý T số tiền 300.000 đồng là tiền riêng của T không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với những tài sản, đồ vật, tài liệu khác thu giữ liên quan đến vụ án đã được cơ quan CSĐT – Công an huyện Ý Yên xác định, xử lý trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với những người có hành vi liên quan đến vụ án:

Đối với Nguyễn Quý T là người mua ma túy của Vũ Đình Đ, nhưng khối lượng ma túy không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên đã xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với Tạ Văn D là người đi cùng T, nhưng D không biết mục đích T rủ đi để mua ma túy nên không đề cập xử lý là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Vũ Đình Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2020.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý được hoàn lại sau giám định và 01 mảnh giấy bạc màu vàng bên trong ghi dãy số 09143664 là vật chứng vụ án.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 157.000 đồng thu giữ của bị cáo Vũ Đình Đ, là tiền do Đ bán ma tuý mà có.

Trả lại cho bị cáo Vũ Đình Đ chiếc điện thoại di động Nokia vỏ nhựa màu xanh, màn hình đen trắng số seri 356340050302603 do không sử dụng vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy (bố đẻ bị cáo là ông Vũ Đức Lương, sinh năm 1954 trú tại thôn An Thành, xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định được quyền nhận thay và quản lý cho Đ).

Trả lại cho Nguyễn Quý T số tiền 300.000 đồng là tiền riêng của T không liên quan đến hành vi phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/02/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Ý Yên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ý Yên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Đình Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìnđồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Đ được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ