- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 10/2021/HS-ST Ngày 09 tháng 3 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH N
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Q.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công H, ông Đinh Duy Q.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị H - Thư ký Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh N tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn D - Kiểm sát viên.
Ngày 09/3/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2021/TLST- HS ngày 04/02/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2021/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:
Phạm Văn H, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1971 tại xã G, huyện G, tỉnh N. Nơi cư trú: Xóm 6, xã G, huyện G, tỉnh N. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Giới tính: Nam. Trình độ văn hóa: Lớp 3/10. Con ông: Phạm Văn C và bà Đặng Thị T; có vợ là Lương Thị Q và 02 con, con lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1998.
Tiền án, tiền sự: Không.
Lịch sử bản thân:
- Tại bản án số 15/2008/HSST ngày 27/5/2008, Tòa án nhân dân huyện G xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách l8 tháng, phạt bổ sung 3.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”. H chấp hành xong bản án ngày 27/11/2009.
- Tại bản án số 34/2008/HSST ngày 15/8/2008, Tòa án nhân dân huyện G xử phạt 8.500.000 đồng, về tội “Đánh bạc”. H chấp hành xong bản án ngày 24/02/2011.
- Tại quyết định số 408/QĐ-UBND ngày 17/5/2011, Chủ tịch UBND huyện G ra quyết định đưa Phạm Văn H đi chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng. Đến nay H chưa thi hành quyết định nhưng không do lỗi của H. Quyết định này đến nay đã hết hiệu lực thi hành.
- Ngày 25/12/2015, Đồn Công an xã G, huyện G ra Quyết định số 09 xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 29/12/2015, H chấp hành xong quyết định.
- Ngày 06/12/2017, Đồn Công an xã G, huyện G ra Quyết định số 03 xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 11/12/2017, H chấp hành xong quyết định.
- Ngày 11/11/2019, Công an huyện G ra Quyết định số 367 xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13/11/2019, H chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2020, chuyển tạm giam ngày 24/12/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Đặng Thị T, sinh năm 1935. Vắng mặt.
Trú tại: Xóm 6, xã G, huyện G, tỉnh N
Người làm chứng: Các anh Phạm Văn L, Phạm Ngọc N. Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn H là người sử dụng ma túy, loại heroine. Quá trình uống thuốc Methadone để cai nghiện ma túy tại trung tâm y tế huyện G, tỉnh N. H biết thông tin tại khu vực đường đê thuộc xã T, huyện N, tỉnh N có người đàn ông bán ma túy. Khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 20/12/2020, do có nhu cầu sử dụng heroine nên H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 35B2- 140.34 đi từ nhà đến khu vực đường đê thuộc địa phận xã T, huyện N gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ đang đứng ở phía bên phải đường 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có mảnh giấy báo đựng chất bột dạng cục màu trắng với giá 1.000.000 đồng; tuy không mở ra kiểm tra nhưng H xác định bên trong gói nhỏ có chứa heroine, nên H cầm gói ma túy ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay về. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đi đến khu vực thu vé phà Đồng Chưa, thuộc địa phận xã Gia Lạc, huyện G, thì gặp Tổ công tác Công tác Công an huyện G đang làm nhiệm vụ tại khu vực yêu cầu kiểm tra, biết không thể che giấu được hành vi cất giấu trái phép ma túy của mình, H đã tự nguyện giao nộp cho Tổ công tác 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có mảnh giấy báo có đựng chất bột dạng cục màu trắng. Tổ công tác đã thu giữ của H 01 gói nhỏ có đặc điểm nêu trên, H khai nhận đó là heroine, mua về để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 35B2- 140.34 và số tiền 200.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã niêm phong vật chứng là chất bột dạng cục màu trắng trong giấy báo được bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng thu giữ của Phạm Văn H, lấy mẫu ký hiệu là M gửi đi giám định khối lượng và chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 29/KLGĐ-PC09-MT ngày 23/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận:
- Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,9272 gam, là ma túy, loại heroine.
- Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện G đã ra quyết định chuyển số tiền 200.000 đồng đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện G; Chuyển 01 phong bì ghi số 29/KLGĐ-PC09-MT do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N bàn giao sau giám định bên trong đựng vật chứng, gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,7147 gam là ma túy, loại Heroine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định pháp luật đựng vật chứng còn lại sau khi cân xác định khối lượng, gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 mảnh giấy báo và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện G.
Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện G đã trả lại cho bà Đặng Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 35B2-140.34 đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, bị cáo H đã khai nhận hành vi như đã nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKS-GV ngày 02/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố Phạm Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện G để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự(BLHS).
Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận giám định và Bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện G thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn H như nội dung Bản cáo trạng. Sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự(BLTTHS). Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/12/2020; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 29/KLGĐ-PC09-MT do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N bàn giao sau giám định bên trong đựng vật chứng, gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,7147 gam là ma túy, loại Heroine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định pháp luật đựng vật chứng còn lại sau khi cân xác định khối lượng, gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 mảnh giấy báo và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; Trả lại cho bị cáo H số tiền 200.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Phân tích các chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện rõ: Do mắc nghiện ma túy từ lâu, để có ma túy thỏa mãn nhu cầu bản thân, nên buổi trưa ngày 20/12/2020, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 35B2- 140.34 đi từ nhà đến khu vực đường đê thuộc địa phận xã T, huyện N. Tại đây, H gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ đang đứng ở phía bên phải đường 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có mảnh giấy báo đựng chất bột dạng cục màu trắng với giá 1.000.000 đồng. H xác định bên trong gói nhỏ có chứa heroine Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đi đến khu vực thu vé phà Đồng Chưa, thuộc địa phận xã Gia Lạc, huyện G, thì gặp Tổ công tác Công tác Công an huyện G đang làm nhiệm vụ, biết không thể che giấu được hành vi cất giấu ma túy của mình nên H đã tự nguyện giao nộp cho Tổ công tác 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có mảnh giấy báo có đựng chất bột dạng cục màu trắng và khai nhận đó là Heroin mà bị cáo vừa mua được về để sử dụng. Rõ ràng bị cáo H đã có hành vi cất giấu 0,9272 gam ma túy, loại Heroine đúng như kết luận giám định, Bản cáo trạng đã mô tả nêu trên nhằm để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với kết luận giám định, với lời khai của người làm chứng, với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Căn cứ tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo và khối lượng Heroine mà bị cáo tàng trữ, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
… …
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.
. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, học tập mà sớm sa vào con đường nghiện ngập ma túy dẫn đến phạm tội. Ma tuý là một tệ nạn mà Nhà nước ta đang ra sức loại trừ, vì ma tuý mà nhiều gia đình bị khuynh gia bại sản, vợ chồng ly tán. Ma tuý một mặt ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, mặt khác ảnh hưởng đến sự phát triển của giống nòi, là hiểm họa gây nên căn bệnh HIV/AIDS, đồng thời là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội của mình thể hiện khi thấy lực lượng Công an làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số ma túy mà bị cáo cất giấu và khai báo rõ về hành vi phạm tội của mình. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét bị cáo có nhân thân xấu nên cần có một hình phạt thật nghiêm minh đối với bị cáo bằng việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương đối dài mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
. Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh bản thân của bị cáo H là con nghiện, việc tàng trữ ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì ghi số 29/KLGĐ-PC09-MT do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N bàn giao sau giám định bên trong đựng vật chứng, gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,7147 gam là ma túy, loại Heroine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định pháp luật đựng vật chứng còn lại sau khi cân xác định khối lượng, gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 mảnh giấy báo và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo H, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo H ngày 20/12/2020 (theo lời khai của H) ở khu vực đường đê thuộc địa phận xã T, huyện N, tỉnh N. Tuy nhiên, H không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G không có căn cứ để xác minh, làm rõ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 35B2-140.34 đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Văn H. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của bà Đặng Thị T (là mẹ đẻ của bị cáo H), việc H sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi mua ma túy bà T không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại chiếc xe trên cho bà T, là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên đây:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự : Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/12/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 29/KLGĐ-PC09-MT do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N bàn giao sau giám định bên trong đựng vật chứng, gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,7147 gam là ma túy, loại Heroine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định pháp luật đựng vật chứng còn lại sau khi cân xác định khối lượng, gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 mảnh giấy báo và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn H số tiền 200.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. (Đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/02/2021 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện G và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh N; - VKSND tỉnh N; - VKSND huyện G; - Trại tạm giam CA tỉnh N; - C«ng an huyện G; - Chi cục THADS huyện G; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP; (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN HỮU QUỐC |