- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo A phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phương Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2021/HS-ST Ngày: 04-02-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
[
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Vũ Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Phi;
2. Ông Nguyễn Xuân Kiên.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Quốc Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phương Thanh T (tên gọi khác: S), sinh năm 1990, tại Cà Mau. Hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã V, huyện H, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp 3, xã O, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phương Thanh T1, sinh năm 1961 và bà Lâm Thị T2, sinh năm 1961; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo, bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2020, Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phi L, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 246, tổ 10, ấp X, thị trấn U, huyện B, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Đào Duy A (vắng mặt).
2. Ông Trương Đại A1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phương Thanh T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015 đến nay, không có việc làm ổn định. Để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân, T thường mua ma túy của đối tượng B (không rõ nhân thân, lai lịch) tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh về bán lại cho các con nghiện trên địa bàn huyện Dầu Tiếng để lấy lời. Cụ thể, T đã bán ma túy cho các đối tượng nghiện sau:
- Đào Duy A, sinh năm 1988, cư trú tại ấp Đ, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương mua khoảng 03-04 lần tại nhà trọ của T và khu vực Bờ Kênh thuộc ấp E, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương, mỗi lần mua ma túy với số tiền từ 500.000 đồng – 1.000.000 đồng.
- Trương Đại A1, sinh năm 1988, cư trú tại ấp L, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương mua khoảng 03-04 lần khu vực Bờ Kênh thuộc ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương, mỗi lần mua ma túy với số tiền từ 300.000 đồng.
Sáng ngày 15/5/2020, Đào Duy A gọi điện cho T để mua ma túy với giá 1.600.000 đồng nhưng T không còn ma túy để bán. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Phương Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 61R2-8550 đi từ nhà trọ của mình đến khu vực Bà Điểm, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh để mua 01 gói ma túy từ đối tượng N với giá 300.000 đồng và sử dụng tại đây. Sau đó, T tiếp tục mua 4 gói ma túy của đối tượng N với giá 2.500.000 đồng để về bán lại cho A.
Khoảng 18 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 61R2-8550 mang theo 4 gói ma túy đi đến khu vực khu vực Bờ Kênh thuộc ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương để bán cho A 02 gói ma túy với giá 1.600.000 đồng nhưng khi đến khu vực ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương, Phương bị Đội Cảnh sát kinh tế - ma túy, Công an huyện Dầu Tiếng phối hợp với Công an xã M phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật gồm:
+ 04 (bốn) gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể trắng nghi là ma túy được niêm phong trong bì thư dán kín có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Trung Tín và người chứng kiến Phương Thanh T. Bì thư tiếp tục được niêm phong trong bì thư dán kín tại Công an xã M, có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Trung Tín, người chứng kiến Phương Thanh T, chữ ký của Trưởng Công an xã M, ông Nguyễn Văn C và dấu đỏ của Công an xã M.
+ 01 (một) xe mô tô Yamaha Taurus, màu trắng - đen, biển số 61R2-8550, số khung: 126193, số máy: 16S2-126194.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số IMEI 1: 357752107212180, số IMEI 2: 357754100118380, kèm theo 01 sim Viettel, không rõ số seri sim.
+ 01 (một) kéo bằng kim loại.
+ 02 (hai) đoạn ống hút nhựa.
+ 02 (hai) túi nylon rỗng.
+ 01 (một) quẹt gas đã qua sử dụng.
+ Tiền Việt Nam: 1.400.000 đồng.
Kết luận giám định số 299/MT-PC09 ngày 19/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng/ trọng lượng là 2,7483 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKSDT-HS ngày 06/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Phương Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo T từ 07 năm đến 08 năm tù.
Về vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đại diện Viện kiểm sát:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì thư bên trong chứa 2,3055 gam ma túy (khối lượng sau khi giám định) loại Methamphetamine được niêm phong số 299/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
+ 01 (một) kéo bằng kim loại; 02 (hai) đoạn ống hút nhựa; 02 (hai) túi nylon rỗng; 01 (một) quẹt gas đã qua sử dụng.
+ 01 sim Viettel, không rõ số seri sim;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với:
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số IMEI 1: 357752107212180, số IMEI 2: 357754100118380.
+ Đối với 01 xe mô tô Yamaha Taurus, màu trắng - đen, biển số 61R2-8550, số khung: 126193, số máy: 16S2-126194. Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô trên do Nguyễn Phi L, sinh năm 1987, nơi thường trú: xã U, huyện B, tỉnh Bình Dương là người đứng tên chủ sở hữu. Vào khoảng đầu năm 2020, L bán xe mô tô trên cho một người nam (không rõ nhân thân, lai lịch) ở xã V, huyện B nhưng không làm thủ tục sang tên. Khoảng tháng 4/2020, bị cáo T mua xe mô tô trên của một người tên Đ tại xã V, huyện B, tỉnh Bình Dương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô tại Báo Công Lý trong ba kỳ báo số 079, ngày 02/10/2020; số 080, ngày 06/10/2020; số 081, ngày 09/10/2020 không xác định có người chủ sử dụng khác. Xét thấy, Phương Thanh T sử dụng xe mô tô này để đi bán ma túy cho các đối tượng nghiện. Do đó, đề nghị tịch thu xe trên, sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với hành vi của đối tượng tên N bán trái phép chất ma túy cho Phương Thanh T. Quá trình điều tra, không rõ nhân thân, lý lịch của đối tượng N nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý.
Đối với hành vi của đối tượng Đào Duy A mua ma túy của bị cáo T về sử dụng. Ngày 11/12/2020, Công an huyện Dầu Tiếng ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 213/QĐ-XPHC đối với Đào Duy A về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với hành vi của đối tượng Trương Đại A1 mua ma túy của bị cáo T về sử dụng. Ngày 01/3/2019, Trương Đại A1 bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương theo Quyết định số 11/QĐ-TA. Ngày 24/5/2019, Trương Đại A1 trốn khỏi Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương. Ngày 15/5/2020, Công an huyện Dầu Tiếng đã bàn giao Trương Đại A1 cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương để tiếp tục cai nghiện theo Quyết định số 11/QĐ-TA ngày 01/3/2019.
Tại phiên tòa, các bị cáo T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện cải tạo thành người công dân tốt.
Những người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan Nguyễn Phí Long xin vắng mặt tại phiên tòa. Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự và không ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng đối với vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo Phương Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Ngày 15/5/2020, bị cáo Phương Thanh T có hành vi mua 2,7483 gam ma túy từ đối tượng tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) với mục đích bán lại cho các con nghiện. Qua điều tra bị cáo khai nhận hành vi bán ma túy cho các con nghiện nhiều lần tại khu vực bờ kênh thuộc ấp C, xã M, huyện Dầu Tiếng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phương Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm cho nhiều người phải nghiện thứ chất độc hại mà Nhà nước cấm sử dụng, là một trong những con đường dẫn đến căn bệnh HIV, AIDS và kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật thế nhưng bị cáo bất chấp hậu quả, quyết tâm thực hiện tội phạm, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là người hiểu rõ nhất về tác hại của chất ma túy, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm.
Xét hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Dầu Tiếng nên cần phải xử lý thật nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm có điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân tốt cho xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo là người có chưa có tiền án, tiền sự. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, điều khoản truy tố là có căn cứ và phù hợp pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xử lý về vật chứng:
+ 01 bì thư bên trong chứa 2,3055 gam ma túy (khối lượng sau khi giám định) loại Methamphetamine được niêm phong số 299/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, xét thấy đây là tang vật của vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đề nghị tịch thu tiêu hủy là đúng.
+ Đối với 01 sim điện thoại Viettel không rõ seri; 01 (một) kéo bằng kim loại; 02 (hai) đoạn ống hút nhựa; 02 (hai) túi nylon rỗng; 01 (một) quẹt gas không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số IMEI 1: 357752107212180, số IMEI 2: 357754100118380 là phương tiện bị cáo sử dụng liên lạc để mua ma túy và bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
+ Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha Taurus, màu trắng-đen, biển số 61R2-8550, số khung: 126193, số máy: 16S2-126194. Được xác định là phương tiện của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
+ Đối với số tiền Việt Nam 1.400.000 đồng là số tiền của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Đối với hành vi của đối tượng tên N bán trái phép chất ma túy cho Phương Thanh T. Quá trình điều tra, không rõ nhân thân, lý lịch của đối tượng N nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý.
Đối với hành vi của đối tượng Đào Duy A mua ma túy của bị cáo T về sử dụng. Ngày 11/12/2020, Công an huyện Dầu Tiếng ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 213/QĐ-XPHC đối với Đào Duy A về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với hành vi của đối tượng Trương Đại A1 mua ma túy của bị cáo T về sử dụng. Ngày 01/3/2019, Trương Đại A1 bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương theo Quyết định số 11/QĐ-TA. Ngày 24/5/2019, Trương Đại A1 trốn khỏi Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương. Ngày 15/5/2020, Công an huyện Dầu Tiếng đã bàn giao Trương Đại A1 cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương để tiếp tục cai nghiện theo Quyết định số 11/QĐ-TA ngày 01/3/2019.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phương Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt:
Bị cáo Phương Thanh T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15/5/2020.
2. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì thư bên trong chứa 2,3055 gam ma túy (khối lượng sau khi giám định) loại Methamphetamine được niêm phong số 299/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Ngọc Diệp, bên giao mẫu, ông Đoàn Anh Ngọc và người chứng kiến Phương Thanh T.
+ Đối với 01 sim điện thoại Viettel không rõ seri; 01 (một) kéo bằng kim loại; 02 (hai) đoạn ống hút nhựa; 02 (hai) túi nylon rỗng; 01 (một) quẹt gas đã qua sử dụng.
2.2. Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước:
+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số IMEI 1: 357752107212180, số IMEI 2: 357754100118380.
+ Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha Taurus, màu trắng-đen, biển số 61R2-8550, số khung: 126193, số máy: 16S2-126194 (Tại thời điểm giao nhận vật chứng: Xe đã cũ, không có gương chiếu hậu bên phải)
2.3. Trả cho bị cáo Phương Thanh T số tiền Việt Nam 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng).
(Tất cả tài sản trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2021 và biên lai thu số AA/2016/0001367 ngày 07/01/2021).
3. Án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phương Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Công an H. Dầu Tiếng; - Chi cục THADS H. Dầu Tiếng; - PV 27-Công an tỉnh Bình Dương; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - UBND thị trấn Dầu Tiếng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT. HỘI THẨM NHÂN DÂN Trương Hữu Bình Nguyễ n Thị Thu Thu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Anh Tuấn THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ gu ̃n Thi u n |