- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình giữa Chị Mai Thị G và Anh Nguyễn Trung H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 238, khoản 4 điều 147; 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN THIỆU HOÁ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2021/HNGĐ-ST Ngày 31/3/2021 V/v:“Tranh chấp hôn nhân gia đình.” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Nhân và bà Trịnh Thị Hạnh.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân Thiệu Hoá.
Ngày 31 tháng 3 năm 2021 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 149/2020/TLST- HNGĐ ngày16 tháng 11 năm 2020. “Tranh chấp hôn nhân gia đình” . Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐST/DS, ngày 09 tháng 02 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐST - HNGĐ ngày 02 tháng 03 năm 2021giữa:
Nguyên đơn: Chị Mai Thị G, Sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn Cự Khánh, xã Thiệu D, huyện Thiệu Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1995 Địa chỉ: Thôn Đông Mỹ, xã Thiệu D,Thiệu Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 16 tháng 11 năm 2020 chị Mai Thị G trình bày:
Chị và anh Nguyễn Trung H xây dựng gia đình với nhau trên sự tự nguyện, cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, đăng ký kết hôn ngày 26 tháng 10 năm 2017 Tại UBND xã Thiệu D, huyện Thiệu Hóa,tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới vợ chồng hòa thuận được gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh H bài bạc nghiệm ngập, mặc dù đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh H không thay đổi ngày một thậm tệ hơn. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, do vậy vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2020 cho đến nay cuộc sống của ai người đó tự lo, không ai quan tâm đến ai.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vậy chị G đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa giải quyết cho Chị được ly hôn anh Nguyễn Trung H.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung không đề nghị giải quyết.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung không đề nghị giải quyết.
Tại đơn xin giải quyết vắng mặt chị vẫn giữ nguyên quan điểm:
Về hôn nhân, xin được ly hôn, về con chung vợ chồng chưa có không yêu cầu Tòa án giải quyết, về tài sản chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn là anh Nguyễn Trung H, sau khi thụ lý vụ án,Tòa án đã thực hiện đầy đủ các bước tố tụng đảm bảo quyền của Anh theo luật định, trình tự tiến hành hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh Nguyễn Trung H không đến Tòa để giải quyết vụ án.Vì vậy quan điểm của Anh không được thể hiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện các chứng cứ, xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Mai Thị G có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Anh Nguyễn Trung H đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Chị Mai Thị G và anh Nguyễn Trung H xây dựng gia đình với nhau trên sự tự nguyện, cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, đăng ký kết hôn ngày 26 tháng 10 năm 2017 tại UBND xã Thiệu D, huyện Thiệu Hóa,tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi cưới vợ chồng hòa thuận được gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, do vậy vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2020 cho đến nay cuộc sống của ai người đó tự lo, không ai quan tâm đến ai, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị G đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Trung H.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị G thì thấy :
Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã nhiều lần triệu tập cả hai Anh, Chị đến Tòa án giải quyết vụ án, hòa giải khuyên nhủ vợ chồng đoàn tụ cùng nhau xây hạnh phúc gia đình nhưng anh Nguyễn Trung H không hợp tác, không đến Toà để giải quyết vụ án, chứng tỏ anh Nguyễn Trung H không có trách nhiệm với hạnh phúc gia đình Anh, Chị đã tạo dựng. Hiện tại Anh, Chị đã ly thân từ tháng 03 năm 2020 cho đến nay mỗi người sống một nơi không ai quan tâm đến ai, đời sống chung không còn, điều này cho thấy tình cảm vợ chồng giữa Anh, Chị mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng không thể cải thiện được, mục đích hôn nhân không đạt được.
Vì vậy áp dụng điều 51; 56 luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị G xử cho chị Mai Thị G được ly hôn anh Nguyễn Trung H là phù hợp.
Về con chung: Chị Mai Thị G và anh Nguyễn Trung H chưa có con chung, Không xét.
Về tài sản: Chị Mai Thị G không đề nghị giải quyết, Không xét.
Về án phí: Chị Mai Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định .
Từ các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 238, khoản 4 điều 147; 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị G, xử cho chị Mai Thị G được ly hôn anh Nguyễn Trung H.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.
Về tài sản: Chị Mai Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Mai Thị G phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, tiền tạm ứng án phí chị Mai Thị G đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Theo biên lai số AA/2017/0005842 ngày 16 tháng 11 năm 2020 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thiệu Hoá được chuyển thành án phí.
Án xử sơ thẩm theo trình tự bút lục, vắng mặt các bên đương sự. Tuyên bố các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKS Thiệu Hoá - Chi cục thi hành án Thiệu Hoá -TAND Tỉnh Thanh Hóa - UBND xã nơi ĐS ĐKKH - Lưu hồ sơ vụ án | T/M. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán Lê Văn Hà |