- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức …
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ T NH S C TR NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2021/HNGĐ-ST Ngày: 23/3/2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, T NH S C TR NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chiêm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Thạch Thanh Tâm.
2/ Ông Nguyễn Thanh Rực
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Điều - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23/3/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc
Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 289/2020/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2020 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/02/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Bích T, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã S, huyện P, tỉnh Sóc Trăng,
- Bị đơn: Ông Dương Thanh V, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện P, tỉnh Sóc Trăng,
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2020 cũng như trong quá trình giải quyết
vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Bích T trình bày: Vào năm 1999 bà và ông Dương Thanh V tự nguyện chung sống với nhau, nhưng đến năm 2011 mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã S, huyện P, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72, ngày 01/9/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7/20218 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm sống, bà và ông V đã không còn chung sống từ tháng 9/2019 đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm với ông V, nên bà T yêu cầu được ly hôn.
Thời gian chung sống bà T và ông V có hai con chung là: Dương Hiền T, sinh
ngày 11/12/2001, hiện đã trưởng thành, có khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân và Dương Quốc T, sinh ngày 11/12/2009 hiện đang chung sống với bà T. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Dương Quốc T đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung là Dương Hiền T đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng cho ông Dương Thanh V, nhưng ông V không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T, đồng thời ông V cũng không đến tham gia phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú xác định:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho ông
Dương Thanh V, nhưng ông V vẫn vắng mặt, không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông V.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Bích T, nhận thấy bà T và ông V tự
nguyện chung sống với nhau năm 1999, nhưng đến năm 2011 mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã S, huyện P, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72, ngày 01/9/2011. Quan hệ hôn nhân của bà T và ông V không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống, đến tháng 7/2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là bất đồng quan điểm sống. Hiện bà T nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông V nên có nguyện vọng ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã động viên bà T suy nghĩ lại, hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông V, nhưng bà T vẫn cương quyết xin được ly hôn, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Tuyền được ly hôn với ông V.
3 Về con chung: Thời gian chung sống bà Tuyền và ông V có hai con chung
là: Dương Hiền T, sinh ngày 11/12/2001 và Dương Quốc T, sinh ngày 11/12/2009, hiện đang chung sống với bà T. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Dương Quốc T đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung là Dương Hiền T, đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, cháu T đang chung sống với bà T, để đảm bảo cho môi trường sống của cháu không bị xáo trộn, để cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T là muốn được chung sống với mẹ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà T, giao cháu T cho bà T tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Hiện bà T có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con, nên việc bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với con chung là Dương Hiền T, hiện đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4 Về tài sản chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên
Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5 Về nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội
đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6 Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị
đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định
tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36, điểm
b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Bích T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Bích T được ly hôn với ông Dương Thanh V.
- Về con chung: Giao con chung là Dương Quốc T, sinh ngày 11/12/2009 cho
bà Lê Bích T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Ông Dương Thanh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung là Dương Hiền T, sinh ngày 11/12/2001 đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ông Dương Thanh V được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không
ai được cản trở. Ông Dương Thanh V không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Dương Quốc T của bà Lê Bích T.
- Về tài sản chung: Bà Lê Bích T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét
xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Bà Lê Bích T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử
không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007281, ngày 13/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Lê Bích T đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.
Ông Dương Thanh V không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNN&THA); - Đương sự; - VKSND huyện Long Phú; - UBND xã S, h. LP; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòaTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòaNơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chiêm Ngọc Linh |