vanban.org

Bản án 10/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Án lệ 08/2016/AL Được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 07/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10 /2016 của Chánh án TANDTC.

Quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Quốc V. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị TH trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 27/9/2018. Buộc anh Nguyễn Quốc V góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng kể từ tháng 02/2021 đến … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Th, anh V- ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Án lệ 08/2016/AL Được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 07/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10 /2016 của Chánh án TANDTC.
  • Căn cứ chính? Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TAND HUYỆN LG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2021/HNGĐ-ST
Ngày 25-02-2021
V/v ly hôn giữa chị TH, anh Việt

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh

Ông Lê Văn La

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Cường- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện LG.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LG, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LG tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 250/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02a/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2021/QĐST-DS ngày 28/01/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị TH, sinh năm 1999 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn NL 3, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị TH: Luật sư Phạm Văn

Bình- thuộc văn phòng luật sư Phạm Xuân A0- Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang.

Địa chỉ: Thị trấn V1, huyện LG, tỉnh Bắc Giang (có mặt)

-Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn NT 1, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit).

Địa chỉ: Tầng 12 tòa nhà TNR Tower, số 54 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Thượng, quận Đ Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông T1- Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông T3- chuyên viên thu hồi nợ pháp lý (vắng mặt)

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: VP Bank

Địa chỉ: Số 89 LH, quận Đ Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D- Chủ tịch Hội đồng quản trị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A5- Phó giám đốc trung tâm xử lý nợ pháp lý (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị TH trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị chung sống với anh Nguyễn Quốc V ngày 21/10/2016 trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận đến ngày 20/9/2018 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh Việt ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến tháng 12/2019 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên bất đồng trong quan điểm sống, tháng 12/2019 chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng chị sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị TH đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V.

- Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 27/9/2018 hiện con khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng chị, nếu vợ chồng ly hôn chị xin nuôi con chung và yêu cầu anh Việt góp cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/ tháng đến khi con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh Việt được quyền thăm con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản:

Về tài sản chung: Vợ chồng chị có một chiếc ô tô tải Veam, BKS: 98C- 20303. Giấy chứng nhận đăng ký xe 032926 mang tên Nguyễn Quốc V ngày 28/9/2019 vợ chồng chị đã đăng ký thế chấp xe ô tô theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số LN1908161608433 vay Ngân hàng VP Bank chi nhánh Kinh Đô số tiền 590.000.000 đồng. Hiện chiếc xe ô tô Ngân hàng đã thu hồi bán thanh lý đảm bảo khoản vay. Ngoài ra vợ chồng có vay bà Giáp Thị Thu 11 chỉ vàng 9999. Nay vợ chồng ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Đối với khoản nợ 52.750.000 đồng anh Việt vay của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit). Địa chỉ: Tầng 12 tòa nhà TNR Tower, số 54 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Thượng, quận Đ Đ, thành phố Hà Nội ngày 27/3/2019 theo Hợp đồng tín dụng số 1000319030315132. Đây là khoản nợ riêng của anh Việt, khi sanh Việt vay chị không được biết nay vợ chồng ly hôn anh Việt phải có trách nhiệm trả khoản nợ này cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit).

Tại phiên tòa hôm chị Nguyễn Thị TH vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.

Luật sư Phạm Văn Bình là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Nguyễn Thị TH hoàn toàn nhất trí với lời khai của chị TH đã trình bày.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/7/2020 cùng các lời khai tiếp theo bị đơn anh Nguyễn Quốc V trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Về quá trình kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh nhất trí với lời trình bày của chị TH là đúng. Quá trình giải quyết vụ án anh Việt xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, mục đích hôn nhân còn đạt được chị TH đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V, anh không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Quốc V đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 27/9/2018 hiện con khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng chị TH, quá trình giải quyết vụ án anh Việt xin nuôi con chung và không yêu cầu chị TH góp cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa anh Việt đồng ý để chị TH nuôi con chung nhưng anh không đồng ý góp cấp dưỡng nuôi con chung mức 1.000.000 đồng/ tháng đến khi con đủ 18 tuổi theo yêu cầu của chị TH.

-Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản:

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Quốc V trình bày vợ chồng có một chiếc ô tô tải Veam, BKS: 98C- 20303. Giấy chứng nhận đăng ký xe 032926 mang tên Nguyễn Quốc V ngày 28/9/2019 vợ chồng anh đã đăng ký thế chấp xe ô tô theo Hợp đồng cho vay kiên thế chấp xe ô tô số LN1908161608433 vay Ngân hàng VP Bank chi nhánh Kinh Đô số tiền 590.000.000 đồng. Hiện chiếc xe ô tô Ngân hàng đã thu hồi bán thanh lý đảm bảo khoản vay. Còn nợ lại số tiền gốc là 273.894.217 đồng. Và nợ lãi là 7.798.724 đồng, lãi phạt là 10.955.769 đồng. Tổng cộng là 292.648.710 đồng. Ngoài ra không có tài sản chung nào. Quá trình giải quyết vụ án anh đề nghị chia đôi tài sản chung của vợ chồng. Tại phiên tòa anh Việt rút yêu cầu không đề nghị Tòa án giải quyết đối với chiếc xe ô tô này.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng còn có vay của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit). Địa chỉ: Tầng 12 tòa nhà TNR Tower, số 54 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Thượng, quận Đ Đ, thành phố Hà Nội ngày 27/3/2019 theo Hợp đồng tín dụng số 1000319030315132 số tiền là 52.750.000 đồng. Nay vợ chồng ly hôn anh đề nghị chia đôi số nợ chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Quốc V giữ nguyên quan điểm trên.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) do ông T3- chuyên viên thu hồi nợ pháp lý đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 27/3/2019 anh Nguyễn Quốc V đã ký Hợp đồng tín dụng số 1000319030315132 với Mcredit để vay số tiền ( đã bao gồm bảo hiểm khoản vay) 52.750.000 đồng với lãi suất thỏa thuận tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận, anh Việt có trách nhiệm thanh toán số tiền 52.750.000 đồng (gồm cả gốc và lãi phát sinh), liên tiếp trong vòng 36 tháng. Mỗi tháng trả số tiền 3.174.000 đồng. Thanh toán vào ngày 27 hàng tháng của tháng tiếp sau ngày ký hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh Việt đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết, nhiều lần hứa hẹn, cố tình trì hoãn, bất hợp tác trong việc thanh toán mặc dù Mcredit đã nhiều lần liên hệ bằng điện thoại, công văn nhắc nợ. Nay Mcredit đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Quốc V thanh toán cho Mcredit số tiền nợ gốc là 49.703.881 đồng, tiền lãi, phạt chậm trả gốc, phạt chậm trả lãi, phí thu hộ theo thỏa thuận. Tổng cộng là 100.087.973 đồng.

Tại phiên tòa Mcredit có đơn xin rút một phần yêu cầu về lãi suất, lãi phạt và chỉ đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Quốc V thanh toán cho Mcredit số tiền nợ gốc là 49.703.881 đồng, tổng nợ lãi theo mức 20%/ năm kể từ ngày 27/9/2019 đến ngày xét xử là 01 năm 04 tháng 29 ngày với số tiền lãi là 14.055.145 đồng, tiền phí thu hộ là 12.000 đồng. Tổng cộng là 63.771.026 đồng.

Buộc anh Nguyễn Quốc V phải thanh toán cho Mcredit một lần toàn bộ số nợ trên và các khoản lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1000319030315132 ký ngày 27/03/2019 kể từ ngày 26/02/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ bằng mọi tài sản và nguồn thu nhập.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, anh Nguyễn Quốc V không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Mcredit có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản hoặc yêu cầu phong tỏa tài khoản của anh Nguyễn Quốc V để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Mcredit. Toàn bộ số tiền thu hồi được từ bán xử lý tài sản được dùng để thanh toán cho nghĩa vụ trả nợ của anh Nguyễn Quốc V. Nếu số tiền thu được không đủ để thanh toán cho nghĩa vụ trả nợ của anh Nguyễn Quốc V thì anh vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Mcredit.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) ông T3 có đơn xin xét xử vắng mặt.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: VP Bank. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A3-Phó giám đốc trung tâm xử lý nợ pháp lý trình bày: Theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số LN1908161608433 ngày 29/8/2019 anh Nguyễn Quốc V và chị Nguyễn Thị TH vay Ngân hàng VP Bank số tiền là 590.000.000 đồng. Thời hạn vay 72 tháng, tính từ ngày tiếp theo ngày 29/8/2019 đến ngày 29/5/2025. Mục đích vay: Mua xe ô tô tải mới 100% nhãn hiệu VEAM VT 750 MB để phục vụ kinh doanh thu mua phế liệu. thời hạn trả nợ gốc: Theo định kỳ ngày vào ngày 18 hàng tháng, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 18/9/2019; tổng cộng 72 kỳ. Số tiền nợ gốc phải trả mỗi kỳ là 8.194.000 đồng; riêng kỳ cuối trả 8.226.000 đồng. Nợ lãi: Nợ lãi trả theo định kỳ 01 tháng / lần vào ngày 18 hàng tháng, kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 18/9/2019.

Lãi suất vay trong hạn là 9,9%/năm; Mức lãi suất này sẽ được cố định trong 03 tháng đầu tiên kể từ ngày 29/8/2019. Hết hạn này, mức lãi suất sẽ được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên vào ngày 29/11/2019; Ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo vào ngày 01/01/2020; Mức điều chỉnh lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân có kỳ hạn 72 tháng được ngân hàng công bố tại thời điểm điều chỉnh biên độ 3,7%/năm.

Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Lãi suất chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi.

Trả nợ trước hạn: Bên Ngân hàng có quyền yêu cầu bên vay phải trả nợ trước hạn và mức lãi phạt trả nợ trước hạn được quy định cụ thể quy định tại Điều kiện giao dịch chung.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay 01 chiếc xe ô tô tải Veam, BKS: 98C- 20303. Giấy chứng nhận đăng ký xe 032926 mang tên Nguyễn Quốc V.

Thực hiện hợp đồng tín dụng: Ngân hàng đã giải ngân cho ông Việt, bà TH đủ số tiền trên. Tuy nhiên anh Việt, chị TH đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với VP Bank nên toàn bộ khoản vay chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều làn đôn đốc, nhưng anh Việt, chị TH không trả được nợ. Ngày 13/8/2020 VP Bank đã giữ tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô tải Veam, BKS: 98C- 20303. Giấy chứng nhận đăng ký xe 032926 mang tên Nguyễn Quốc V và làm thủ tục thanh lý bán đấu giá với mức giá là 342.000.000 đồng, sau khi trừ đi các chi phí liên quan đến quá trình thu giữ, quản lý tài sản đấu giá, số tiền thu nợ được là 316.950.000 đồng. Sau khi đối trừ vảo khoản tiền gốc và lãi còn nợ thì dư nợ tính đến ngày 01/12/2020 của anh Việt, chị TH là nợ gốc 273.894.217 đồng; nợ lãi 7.798.724 đồng; tiền phạt trả nợ trước hạn: 10.955.769 đồng. Tổng cộng là 292.648.710 đồng. Nay đại diện Ngân hàng VP Bank không đề nghị Tòa án giải quyết khoản nợ này đối với anh Việt, chị TH trong vụ án này. Do ở xa đại diện Ngân hàng VP Bank xin vắng mặt tại tất cả quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng VP Bank có đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LG tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn có lúc chưa chấp hành nghiêm quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 27, Điều 37, khoản 3 Điều 45, Điều 51, Điều 55, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 90, 91, 95, 108 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 468 của Bộ luật dân sự;

Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị TH.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Quốc V.

- Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị TH trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 27/9/2018. Buộc anh Nguyễn Quốc V góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng kể từ tháng 02/2021 đến khi con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Quốc V có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

-Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản:

Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết chia tài sản chung giữa chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Quốc V.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Buộc anh Nguyễn Quốc V phải trả Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) số tiền nợ gốc là 49.703.881 đồng, và tiền lãi theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit), Ngân hàng VP Bank có đơn xin xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị TH chung sống với anh Nguyễn Quốc V ngày 21/10/2016 hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận đến ngày 20/9/2018 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh Việt ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến tháng 12/2019 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên bất đồng trong quan điểm sống, chị TH bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 12/2019 đến nay, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh từ đó. Qua kết quả xác minh với chính quyền địa phương và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị TH, anh Việt đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. quá trình giải quyết vụ án anh Việt không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa anh Việt đồng ý nên căn cứ Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Quốc V.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Quốc V có một con chung là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 27/9/2018. Hiện cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng với chị TH. Quá trình giải quyết vụ án chị TH và anh Việt đều có nguyện vọng được nuôi con. Tại phiên tòa anh Việt đồng ý để chị TH nuôi con. Xét nguyện vọng nuôi con của chị TH là nguyện vọng chính đáng, hiện nay con chung của anh chị dưới 36 tháng tuổi và đang ở ổn định cùng chị TH nên căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 27/9/2018 cho chị TH tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị TH yêu cầu anh Việt góp cấp dưỡng nuôi con mức 1000.000 đồng/ tháng. Xét thấy hiện anh Việt làm nghề lái xe, có mức thu nhập ổn định. Nay giao con chung cho chị TH nuôi dưỡng, nên cần buộc anh Nguyễn Quốc V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng kể từ tháng 02/2021 đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại các Điều 110, 116, 117 của của Luật hôn nhân và gia đình.

Sau khi ly hôn anh Nguyễn Quốc V có quyền thăm nom con, chăm sóc, giáo dục con theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản:

Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Quốc V đề nghị giải quyết chia tài sản chung là chiếc xe ô tô tải Veam, BKS: 98C- 20303. Giấy chứng nhận đăng ký xe 032926 mang tên Nguyễn Quốc V, còn phía chị TH không đề nghị giải quyết. Tại phiên tòa anh Việt xin rút yêu cầu chia tài sản chung do vậy cần đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung giữa chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Quốc V.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Đối với khoản vay ngày 27/3/2019 anh Nguyễn Quốc V đã ký Hợp đồng tín dụng số 1000319030315132 với Mcredit để vay số tiền ( đã bao gồm bảo hiểm khoản vay) 52.750.000 đồng với lãi suất thỏa thuận tiêu dùng cá nhân. Phía Công ty tài chính đã giải ngân cho anh Việt nhận tiền đầy đủ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh Việt đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết. Nay Mcredit đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Quốc V thanh toán cho Mcredit số tiền nợ gốc là 49.703.881 đồng là có căn cứ cần chấp nhận.

Đối với yêu cầu tính lãi của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) với mức lãi suất cho vay trong hợp đồng là 59%/ năm, lãi phạt, phạt chậm trả là quá cao so với quy định của pháp luật. Nay phía công ty tài chính thay đổi lời khai chỉ yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất tối đa 20%/năm quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự với số tiền lãi trên số nợ gốc là 49.703.881 đồng kể từ ngày 27/9/2019 đến ngày xét xử với số tiền là 14.055.145 đồng. Phía bị đơn anh Việt cũng đồng ý thanh toán tiền lãi trên và không đề nghị HĐXX xem xét về khoản tiền gốc, lãi đã trả trước đó. HĐXX xét thấy yêu cầu tính lãi của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) phù hợp với luật các tổ chức tín dụng và các văn bản quy phạm pháp luật, quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng, Án lệ 08/2016/AL Được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 07/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10 /2016 của Chánh án TANDTC. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì lãi và cách tính lãi được áp dụng trên cơ sở thỏa thuận của hai bên trong Hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm trả tiền: HĐXX xét thấy khi vay khoản tiền này chỉ có một mình anh Việt vay và ký nhận tiền, chị TH không biết việc vay mượn trên nay phía Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) cũng chỉ yêu cầu một mình anh Việt thanh toán khoản nợ này. Do vậy cần buộc anh Nguyễn Quốc V có trách nhiệm trả khoản nợ riêng này cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) là phù hợp với quy định của khoản 3 Điều 45 của Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với số tiền anh Nguyễn Quốc V, chị Nguyễn Thị TH đã vay của Ngân hàng VP Bank theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số LN1908161608433 ngày 29/8/2019. Sau khi đối trừ vảo khoản tiền gốc và lãi còn nợ thì dư nợ tính đến ngày 01/12/2020 của anh Việt, chị TH là nợ gốc 273.894.217 đồng; nợ lãi 7.798.724 đồng; tiền phạt trả nợ trước hạn: 10.955.769 đồng. Tổng cộng là 292.648.710 đồng. Nay đại diện Ngân hàng VP Bank không đề nghị Tòa án giải quyết khoản vay này đối với anh Việt, chị TH trong vụ án này nên HĐXX tách ra không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Nguyễn Thị TH phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2019/0002453 ngày 13/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

Anh Nguyễn Quốc V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con và 3.188.500 đồng tiền án phí dân sự. Tổng cộng là 3.488.500 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền 17.500.000 đồng anh đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2019/0002466 ngày 21/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LG, tỉnh Bắc Giang. Hoàn trả anh Nguyễn Quốc V 14.011.500 đồng.

Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) số tiền 2.225.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2019/0002712 ngày 02/12/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 27, 37, 45, 51, 55, 59, 81, 82, 83, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 90, 91, 95, 108 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án lệ 08/2016/AL Được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 07/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10 /2016 của Chánh án TANDTC.

1.Quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Quốc V.

2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị TH trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 27/9/2018. Buộc anh Nguyễn Quốc V góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng kể từ tháng 02/2021 đến khi con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Quốc V có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản:

Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết chia tài sản chung giữa chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Quốc V.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Buộc anh Nguyễn Quốc V phải trả Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) số tiền nợ gốc là 49.703.881 đồng, tổng nợ lãi là 14.055.145 đồng, phí thu hộ 12.000 đồng. Tổng cộng là 63.771.000 đồng.

Buộc anh Nguyễn Quốc V tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán, kể từ ngày 26/02/2021 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1000319030315132 với Mcredit ngày 27/3/2019 cho đến khi anh Nguyễn Quốc V thanh toán hết các khoản nợ cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit).Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất anh Nguyễn Quốc V phải tiếp tục thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị TH phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2019/0002453 ngày 13/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

Anh Nguyễn Quốc V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con và 3.188.500 đồng tiền án phí dân sự. Tổng cộng là 3.488.500 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền 17.500.000 đồng anh đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2019/0002466 ngày 21/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LG, tỉnh Bắc Giang. Hoàn trả anh Nguyễn Quốc V 14.011.500 đồng.

Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn MB SHINSEI (Mcredit) số tiền 2.225.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2019/0002712 ngày 02/12/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án./.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ