vanban.org

Bản án 10/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 19/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn C 33 (ba mươi ba) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 12/10/2019. 2- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Chân tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 10/2020/HSST
Ngày 19 tháng 02 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Văn Vịnh

2. Bà Lường Thị Khuyển

- Thư ký phiên toà:

Bà Hà Thị Điệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2020/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn C - Sinh ngày 25/02/1980. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản P, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 2/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn: Không; Con ông Lò Văn C và bà Lò Thị L; Bị cáo có vợ là Lò Thị C và 03 người con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2013);

Tiền án: Ngày 25/5/2017 bị TAND huyện Sông Mã xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 12/10/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21giờ 40 phút ngày 11/10/2019 tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã Nậm Ty làm nhiệm vụ tại bản Pàn, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La phát hiện một đối tượng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra thì đối tượng đã thả từ tay trái ra 01 gói nilon màu hồng xuống đất, khi tổ công tác yêu cầu nhặt lên giao nộp thì đối tượng khai nhận tên là Lò Văn C, trú tại bản P, xã N, huyện S, kiểm tra bên trong gói nilon có 04 viên hồng phiến cùng các mảnh vỡ màu hồng. Sau đó C khai nhận còn cất giấu Heroine và viên Hồng phiến tại lán nương của Chân cách đó khoảng 200m, tổ công tác đã áp giải Chân đến lán nương, C lấy ở góc lán nương ra 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 01 gói nilon màu hồng chứa 03 viên Hồng phiến cùng một số mảnh vỡ màu hồng, và một gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng gồm 07 viên nén màu hồng cùng một số mảnh vỡ của viên nén màu hồng, 01 gói chất bột màu trắng và 01 mảnh giấy bạc dùng để sử dụng ma túy.

Ngày 14/10//2019 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong cân tịnh xác định khối lượng, kết quả: " 04 viên nén hình tròn màu hồng và các mảnh viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 0,51 gam, sử dụng toàn bộ 0,51 gam để làm mẫu giám định ký hiệu H1. 03 viên nén hình tròn màu hồng và các mảnh viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 0,45 gam, sử dụng toàn bộ 0,45 gam để làm mẫu giám định kí hiệu là H2. Số chất bột liên kết màu trắng có khối lượng 0.09 gam, sử dụng toàn bộ 0.09 gam để làm mẫu giám định kí hiệu T1".

Tại kết luận số 1580 ngày 17/10/2019 của phòng Kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La, kết luận: " Mẫu giám định ký hiệu T1 là ma túy, loại Heroine, số lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu H1, H2 là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là H1 = 0,51 gam, H2 = 0,45 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,09 gam loại Heroine và 0,96 gam loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra Lò Văn C khai nhận: Sáng ngày 11/10/2019 C mang theo 200.000đ lên khu vực bản Pá Men, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã để mua gỗ về làm nhà, khi đi đến cuối bản Pá Men thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, C hỏi và mua được với người này 09 viên Hồng phiến và một cục Heroine, mua được ma túy C đi về lán nương của gia đình thuộc bản P, xã N, huyện S rồi lấy 1,5 viên Hồng phiến trộn với một ít Heroine sử dụng bằng hình thức đốt hít qua đường hô hấp, phần viên Hồng phiến còn lại C dùng móng tay nghiền vụn ra thành nhiều mảnh nhỏ C chia làm 03 gói; 01 gói có 03 viên cùng một ít mảnh vỡ, 01 gói chứa 04 viên cùng một ít mảnh vỡ, 01 gói là Heroine rồi gắn kín từng gói lại, xong C cho gói có 03 viên và gói Heroine cùng mảnh giấy bạc mới sử dụng cất giấu vào trong hộp phấn trang điểm cất ở góc lán nương, còn gói 04 viên C cầm trên tay rồi đi bộ về nhà, khi đi đến khu vực bản Pàn, xã Nậm Ty thì bị tổ công tác phát hiện bắt giữ.

Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 15 tháng 01 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt bị cáo từ 30 - 36 tháng tù. Tịch thu tiêu huỷ số vật chứng liên quan. Miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 21giờ 40 phút, ngày 11/10/2019, bắt quả tang Lò Văn C có hành vi cất giữ 07 viên nén màu hồng cùng một số mảnh vỡ của viên nén màu hồng, 01 gói chất bột màu trắng.

- Kết luận giám định 1580 ngày 17/10/2019 của phòng Kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La, kết luận số viên nén và chất bột đã thu được của C.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11 tháng 10 năm 2019 Lò Văn C đã có hành vi tàng trữ 0,09 gam Heroine và 0,96 gam Methamphetamine.

Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS Hội đồng xét xử thấy: Theo hướng dẫn tại mục I phụ lục kèm theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự, thì tổng khối lượng 02 chất ma túy Heroine, Methamphetamine tương đương với khối lượng Heroine, Methamphetamine quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy trường hợp này tổng khối lượng của 02 chất ma túy Heroine, Methamphetamine thuộc thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”. Do vậy không chấp nhận Quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự để xử phạt đối với bị cáo.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 25/5/2017 bị cáo bị TAND huyện Sông Mã xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo việc còn cất giữ ma tuý và giao nộp cho cơ quan điều tra; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vấn đề khác liên quan: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ mở rộng điều tra vụ án.

Về vật chứng vụ án: Đối với các vật chứng liên quan khác cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luạt hình sự; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:

1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn C 33 (ba mươi ba) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 12/10/2019.

2- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) mảnh giấy nilon màu trắng, 03 (ba) mảnh giấy nilon màu hồng; 01 (một) phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bị bóc mở (tất cả được đựng trong 01 phong bì thư niêm phong, dán kín).

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2020 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3- Về án phí: Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 19/02/2020./.

Cỡ chữ