vanban.org

Bản án 10/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh V 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 12/10/2019 đến ngày 18/10/2019 quy đổi bằng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành. Thời hạn cải tạo không giam giữ tí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/HSST
Ngày: 28/4/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Khuyến

Ông Nguyễn Sỹ Luận

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Chu Ngọc Phú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2020/HSST ngày 02 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thanh V, sinh năm 1970 tại Quảng Trị; HKTT: Thôn 8, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiêp: Làm nông; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Văn L, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị T (Đã chết); Vợ là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2019 đến ngày 18/10/2019 được tại ngoại cho đến nay. “Có mặt tại phiên tòa”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 12/10/2019, Phạm Văn C và Phạm Văn C1 đi đến nhà của Lê Thanh V thuộc thôn 8, xã B để ghi số đề. Tại đây, C ghi bao lô 200 điểm số 72 với số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng); C1 ghi bao lô 120 điểm số 32 với số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) và ghi đầu, đuôi 200 điểm số 32 với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), tổng số tiền mà V ghi cho C1 là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Sau đó, C và C1 đưa tiền cho V, đồng thời V ghi số đề, số tiền mà C, C1 đã đánh vào 02 tờ giấy (tờ phơ) rồi Vinh đưa 02 tờ giấy này cho C, C1 thì bị lực lượng Công an huyện C phối hợp với Công an xã B phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật gồm:

+ Thu giữ trên người Lê Thanh V số tiền 6.130.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu hồng;

+ Thu giữ trên người Phạm Văn C1 01 tờ phơ đề ghi “32x120;TP/12/10; 100-32-100”;

+ Thu giữ trên người Phạm Văn C 01 tờ phơ đề ghi “72x200;TP12/10”.

- Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thanh V thu giữ:

+ 02 mảnh giấy ô ly tập học sinh có chữ viết tay mực màu xanh gồm chữ và số (tờ phơ đề)

+ 01 mảnh giấy ô ly tập học sinh có chữ viết tay mực mầu xanh gồm chữ và số.

+ 01 tờ giấy màu trắng mặt trước có tiêu đề “PHIẾU GIAO NHẬN THANH TOÁN” mặt sau có chữ viết tay mực màu xanh gồm chữ và số.

+ 01 cuốn vở ô ly tập học sinh, nhãn vở tên “Ngô Hoàng Thanh N” tập BT Hóa (Hello) các trang giấy viết trong có chữ viết được đánh số từ 01-30.

+ 01 cuốn vở ô ly tập học sinh, nhãn vở tên ( Lê Thị Thu H) tập “Lịch Sử” các trang giấy viết trong có chữ viết được đánh số từ 01-32.

+ 01 cuốn vở ô ly tập học sinh, “TP” có chữ “tập Tí Hon” màu đỏ ở phần bìa. các trang giấy viết trong có chữ viết được đánh số từ 01-53.

+ 01 mảnh giấy ô ly tập học sinh có số: 0311909743

Hình thức đánh số đề như sau: Đối tượng chơi đề ghi hai và ba con số cuối cùng của các giải thưởng (gồm 18 giải thưởng) do chương trình xổ số kiến thiết phát hành hàng ngày của các tỉnh, thành phố (Kết quả xổ số kiến thiết thành phố Hồ Chí Minh). Đối tượng chơi ghi hai con số đầu của giải tám gọi là “đánh đầu”, ghi hai con số cuối cùng của giải đặc biệt gọi là “đánh đuôi”, ghi ba con của giải bảy và ba con số cuối cùng của giải đặc biệt gọi là đánh đầu đuôi ba số, ghi hai và ba con số cuối cùng của tất cả các giải thưởng gọi là “bao lô”.

Tỉ lệ thắng thua được được tính như sau: Đối với hình thức đánh hai số đầu, đánh hai số đuôi hoặc đánh bao lô hai con số thì 1 ăn 70 (có nghĩa là nếu đối tượng chơi ghi trúng thì Vinh phải trả cho đối tượng chơi số tiền gấp 70 lần số tiền đối tượng chơi đã ghi), còn đối tượng chơi không trúng thì thua bằng số tiền đã ghi; ghi ba số đầu, ba số đuôi hoặc bao lô ba con số thì 1 ăn 600 (có nghĩa là nếu đối tượng chơi ghi trúng thì Vinh phải trả cho đối tượng chơi số tiền gấp 600 lần số tiền đối tượng chơi đã ghi), còn đối tượng chơi không trúng thì thua bằng số tiền đã ghi.

Quá trình điều tra, chứng minh được hành vi ghi số đề của Lê Thanh V vào ngày 12/10/2019 là 5.000.000 đồng. Trong đó, V ghi số đề cho Phạm Văn C số tiền 3.000.000 đồng; Ghi cho Phạm Văn C1 2.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 03A/CTr-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Lê Thanh V mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Ngoài ra còn xử lý về vật chứng của vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Do mục đích hám lợi, muốn kiếm tiền bất chính nên vào khoảng 15 giờ ngày 12/10/2019, bị cáo Lê Thanh V có hành vi ghi số đề tại thôn 8, xã Long Hưng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước cho Phạm Văn Cvà Phạm Văn C 1với tổng số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) thì bị Công an bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Lê Thanh V thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công C1và là nguyên nhân gây nên các tội phạm khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử pha ̣t bi ̣ cáo mô ̣t mứ c hinh pha ̣t tương xứng với hành vi phạm tội của bị

̀

cáo để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn, có hoàn cảnh gia đình khó khăn được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, hành vi phạm tội ít nghiêm trọng có thể tự cải tạo bản thân để trở thành công dân tốt cho xã hội, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, số tiền dùng vào việc đánh bạc không lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với hành vi ghi số đề của Phạm Văn C và Phạm Văn C1, quá trình điều tra chứng minh được số tiền mà C, C1 sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Mặt khác, C và C1 chưa bị kết án về Tội đánh bạc hay Tội tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc, nên Cơ quan Công an huyện Phú Riềng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với các đối tượng này nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 6.130.000 đồng thu giữ trên người của Lê Thanh V, trong đó có 5.000.000đ là số tiền do V phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước, số tiền còn lại là 1.130.000đ và 01 ĐTDĐ hiệu Oppo F1S màu hồng là tài sản hợp pháp của V, không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 17/12/2019, Cơ quan Công an huyện Phú Riềng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho V nên HĐXX không xem xét

- Đối với tờ phơ đề ghi “32x120;TP/12/10; 100-32-100” và tờ phơ đề ghi “72x200;TP12/10” là vật chứng vụ án đã được đánh số bút lục có tại hồ sơ vụ án, không đề cập đến nên HĐXX không xem xét

- Đối với 03 mảnh giấy ô ly tập học sinh có chữ viết tay mực màu xanh gồm chữ và số; 01 tờ giấy màu trắng mặt trước có tiêu đề “PHIẾU GIAO NHẬN THANH TOÁN” mặt sau có chữ viết tay mực màu xanh gồm chữ và số; 01 cuốn vở ô ly tập học sinh, nhãn vở tên “Ngô Hoàng Thanh N” tập BT Hóa (Hello) các trang giấy viết trong có chữ viết được đánh số từ 01-30; 01 cuốn vở ô ly tập học sinh, nhãn vở tên (Lê Thị Thu H) tập “Lịch Sử” các trang giấy viết trong có chữ viết được đánh số từ 01-32; 01 cuốn vở ô ly tập học sinh, “TP” có chữ “tập Tí Hon” màu đỏ ở phần bìa. các trang giấy viết trong có chữ viết được đánh số từ 01-53 và 01 mảnh giấy ô ly tập học sinh có số: 0311909743 không liên quan đến hành vi phạm tội của Vinh, đồng thời không có giá trị sử dụng, đã được đánh số bút lục có tại hồ sơ vụ án nên HĐXX không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Thanh V 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 12/10/2019 đến ngày 18/10/2019 quy đổi bằng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê Thanh V cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, số tiền dùng vào việc đánh bạc không lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 5.000.000 đồng;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0011654 ngày 27/02/2020 giữa Công an huyện Phú Riềng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Riềng)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết án phí, lệ phí bị cáo Lê Thanh V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ