- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lộc Sỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HSST Ngày: 19/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bào Viết Văn.
2. Bà Hoàng Thị Hạnh.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Triệu Xuân Trìu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2020/HSST, ngày 15/5/2020 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lộc Sỹ H; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20/01/1988 tại Huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn N, xã B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 10/12; con ông: Lộc Sỹ D, sinh năm 1962 và bà Cà Thị C, sinh năm 1961; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 01, ngày 07/10/2019 bị Công an huyện Pác Nặm xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng chất ma túy. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nông Văn Th, sinh năm: 1981. Trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 31/12/2019, tổ công tác Công an huyện Pác Nặm tuần tra trên tuyến đường 258B, khi đến đoạn đường thuộc thôn Khuổi Muổng, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm thì phát hiện Lộc Sỹ H, sinh năm 1988, trú tại Thôn N, xã B đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1: xxx.xx có biểu hiện tàng trữ chất ma túy nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Khi tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì H vứt một gói nhỏ được gói bằng nilon màu trắng, cách chỗ H 4,10 mét về phía sau. Gói nilon màu trắng bên trong được gói bằng giấy bạc, bên trong giấy bạc là một gói chứa chất bột màu trắng được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ nghi là ma túy heroine. Kiểm tra người Lộc Sỹ H phát hiện tại túi quần đằng trước bên trái 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel (Cả hai điện thoại đều đã qua sử dụng). Tại túi quần đằng sau bên phải số tiền 165.000đ (Một trăm sáu năm nghìn đồng). Tổ công tác đã niêm phong gói chứa chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu H1và tạm giữ số tang vật, tài sản để tiến hành điều tra.
Tại biên bản mở niêm phong cân khối lượng chất ma túy hồi 08 giờ 20 phút ngày 01/01/2020 xác định: Khối lượng số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu H1 là 0,22g (không phẩy hai mươi hai gam), đã trích 0,01 gam thử phản ứng nhanh cho kết quả màu tím đỏ, số còn lại 0,21 gam được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu H4 gửi đi giám định.
Tại Kết luận giám định số 25 ngày 14/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu H4 là ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,21g (Không phẩy hai một gam). Sau giám định số còn lại và phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu T25 hoàn trả cơ quan trưng cầu.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm, Lộc Sỹ H khai nhận: Do bản thân nghiện chất ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 31/12/2019, tại Thôn N, xã B, huyện Pác Nặm, H gặp và mượn được chiếc xe moto biển kiểm soát 97B1: xxx.xx của Nông Văn Th, sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã B để về nhà, sau khi mượn được xe thì H đã điều khiển chiếc xe của anh Th đi đến huyện BB để tìm mua ma túy sử dụng, tuy nhiên do không biết chỗ bán nên H tiếp tục đi huyện BT để tìm mua. Khi đi đến địa phận xã M, huyện BB thì gặp một người đàn ông, qua quan sát thấy người đàn ông giống người sử dụng ma túy nên đã dừng xe hỏi mua ma túy thì được người đàn ông trả lời, biết chỗ bán nhưng phải đưa tiền trước. H đưa số tiền 500.000đ, người đàn ông cầm tiền đi được một lúc quay lại đưa cho H một gói nhỏ gói bằng túi nilon màu trắng, sau khi đưa ma túy người đàn ông đi đâu thì H không biết. Tại đây H mở ra kiểm tra thấy gói ma túy được gói thành ba lớp bên trong là ma túy heroine và trích ra một ít sử dụng bằng hình thức hít, số còn lại dùng giấy gói cũ gói lại cho vào túi áo khoác bên trái rồi quay về nhà, khi về đến thôn K, xã N, huyện Pác Nặm thì bị Công an huyện Pác Nặm yêu cầu dừng xe kiểm tra, H đã dùng tay trái lấy gói ma túy từ trong túi áo khoác vứt ra đằng sau thì bị Công an phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang.
Vật chứng của vụ án:
- Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel (Cả hai điện thoại đều đã qua sử dụng) và số tiền 165.000đ (Một trăm sáu năm nghìn đồng). Ngày 12/02/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả cho bị cáo.
- Một Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1- xxx.xx, ngày 03/4/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đã trả cho Nông Văn Th, trú tại thôn Đ, xã B, huyện Pác Nặm.
- Một phong bì ký hiệu H5 (Bên trong chứa các giấy gói, vỏ phong bì cũ); một phong bì ký hiệu T25 (Bên trong là mẫu giám định hoàn trả) và một áo khoác màu đen bên ngoài có hai túi áo ở hai bên, bên trong có 01 túi ở bên trái. Số vật chứng này đã được nhập kho vật chứng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về kết quả cân trọng lượng; kết quả giám định và việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 09/CT-VKSPN ngµy 14 th¸ng 5 n¨m 2020 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Pác Nặm ®· truy tè ®èi víi Lộc Sỹ H theo quy ®Þnh t¹i điểm c kho¶n 1 §iÒu 249 Bé luËt h×nh sù về téi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. §iÒu luËt cã néi dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 5 năm:
…..
c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa: Đ¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Pác Nặm trong phÇn luËn téi ®· gi÷ nguyªn quyÕt ®Þnh truy tè ®èi víi bÞ c¸o và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo Lộc Sỹ H từ 15 đến 18 tháng tù; về hình phạt bổ sung không áp dụng; về vật chứng và án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy mình đã vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố, tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,22g (Không phẩy hai hai gam) chất ma túy (Heroine) với mục đích để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
XÐt tÝnh chÊt hµnh vi bÞ c¸o thùc hiÖn lµ nguy hiểm cho xã hội, ®· x©m ph¹m chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ c¸c chÊt ma tóy. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trong khi bị cáo có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bé luËt h×nh sù là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Vì vậy cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo Lộc Sỹ H sinh ra, lớn lên tại xã B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, được bố mẹ nuôi ăn học đến lớp 10/12 thì ngỉ học lao động tự do. Ngày 07/10/2019 bị Công an huyện Pác Nặm xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng chất ma túy, chưa nộp phạt; Ngày 04/02/2020 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm khởi tố bị can về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS là người phạm tội thành khẩn khai báo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Hội đồng xét xử xét thấy bản cáo trạng sè 09/CT-VKSPN ngµy 14 th¸ng 5 n¨m 2020 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Pác Nặm ®· truy tè ®èi víi Lộc Sỹ H theo quy ®Þnh t¹i điểm c kho¶n 1 §iÒu 249 Bé luËt h×nh sù về téi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
Về các nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa gồm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo Lộc Sỹ H từ 15 đến 18 tháng tù; về hình phạt bổ sung không áp dụng; về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy các nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức án và các vấn đề khác là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Lộc Sỹ H là người nghiện chất ma túy, không có việc làm và thu nhập, sống phụ thuộc gia đình, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel (Cả hai điện thoại đều đã qua sử dụng) và số tiền 165.000đ (Một trăm sáu năm nghìn đồng). Đây là những tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 12/02/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đã trả cho bị cáo. Xét việc trả lại số tài sản trên cho bị cáo là đúng quy định. Tuy nhiên trong trường hợp này nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo sẽ phù hợp hơn.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1-xxx.xx là tài sản của Nông Văn Th, việc bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc đi mua ma túy anh Th không được biết, do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.
Một phong bì ký hiệu H5 (Bên trong chứa các giấy gói, vỏ phong bì cũ); một phong bì ký hiệu T25 (Bên trong là mẫu giám định hoàn trả) và một áo khoác màu đen bên ngoài có hai túi áo ở hai bên, bên trong có 01 túi ở bên trái. Xét các vật chứng trên không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điều Điều 47 Bộ hình sự và Điều 106 BLTTHS.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không có căn cứ xác định tên tuổi, địa chỉ cụ thể, vì vậy không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 §iÒu 135, khoản 2 Điều 136/BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Tßa ¸n.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lộc Sỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 38, điểm c kho¶n 1 §iÒu 249, điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Lộc Sỹ H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: Một phong bì ký hiệu H5 (Bên trong chứa các giấy gói, vỏ phong bì cũ); một phong bì ký hiệu T25 (Bên trong là mẫu giám định hoàn trả) và một áo khoác màu đen đã qua sử dụng, bên ngoài có hai túi áo ở hai bên, bên trong có 01 túi ở bên trái.
Số lượng và tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Pác Nặm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm.
3. Về án phí:Áp dụng khoản 2 §iÒu 135, khoản 2 Điều 136/BLTTHS,Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Tßa ¸n. Bị cáo Lộc Sỹ H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện Pác Nặm ; - Cơ quan CSĐT, THA hình sự Công an huyện Pác Nặm; - Chi cục THADS ; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Tiến Đại |