vanban.org

Bản án 10/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 03/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Vũ L - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi,…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 10/ 2020/HSST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 03/02/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Văn Ri

Bà Ngô Thị Thùy Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Kỳ Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 136/2020/HSST ngày 29/12/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/QĐXXST-HS ngày 20/01/2021 đối với bị cáo:

Trần Vũ L, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2000; Tại Bình Phước Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Ấp 6, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo không; Quốc tịch Việt Nam Con ông Trần Anh Tuấn, sinh năm 1974 và bà Trần Thị Thu Thủy, sinh năm 1975; Tiền án: Không; Tiền sự: không

Bị bắt từ ngày 05/09/2020 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Người bị hại: Nguyễn Thị Yến Ng sinh ngày 20/12/2005 (vắng măt)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

Bà Trần Thị Ng Giàu sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Hiệp Quyết, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Ông Đàm Văn Đức- Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Ngày 31/8/2020 Trần Vũ L sử dụng mạng xã hội Facebook có tên Vũ L kết bạn với Nguyễn Thị Yến Ng tên tài khoản Facebook là “ Ng Em” sau đó nhắn tin qua lại trên Facebook, L đã tỏ tình với Ng được Ng đáp lại.

Khoảng 20 giờ ngày 02/9/2020 L rủ Ng đi chơi với L nhưng do không có bố, mẹ Ng ở nhà Ng có nói L lên nhà Ng chơi L đồng ý sau đó L điều khiển xe mô tô biển số 93F1-512.66 đến xã Lộc Hiệp, Ng chỉ đường cho L vào đến nhà thuộc ấp Hiếp Quyết, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Tại nhà Ng, do không có cha mẹ Ng ở nha, chỉ có em gái của Ng còn nhỏ. L và Ng ngồi trên võng tại phòng khách võng nói chuyện một lúc sau đó L và Ng ôm nhau, trong lúc ôm nhau, L đã dùng tay sờ mó vào những nơi nhạy cảm trên cơ thể của Ng trong lúc sờ mó, L có ý định muốn quan hệ tình dục với Ng nhưng Ng không đồng ý đến khoảng 5 giờ ngày 03/9/2020 L lấy xe đi về để làm việc phụ hồ.

Đến 19 giờ ngày 03/9/2020 L và Ng tiếp tục nhắn tin cho nhau Ng nói với L không có cha mẹ ở nhà rủ L lên nhà Ng chơi. L tiếp tục lên nhà Ng chơi đến khoảng 22 giờ cùng ngày Ng và L đi vào phòng ngủ của Ng, ban đầu Ng nằm trên một tấm nệm để dưới nền gạch còn L nằm trên giường nói chuyện được một lúc thì L xuống nệm nằm cùng với Ng, dùng tay sờ mó vào nhũng nơi nhạy cảm và hôn Ng, kế tiếp L dùng tay cởi đồ Ng ra không thấy Ng nói gì L lại cởi quần áo L ra sau đó cả hai quan hệ tình dục với nhau. Xong cả hai ôm nhau ngủ đến 05 giờ ngày 04/9/2020 L lấy xe đi về. Đến 16 giờ cùng ngày chị Trần Thị Ng Giàu đi làm về phát hiện sự việc đã trình báo Công an sau đó L cũng đã đến Công an đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

Tại bản cáo trạng số 02/CTr-VKSLN ngày 28/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đã truy tố Trần Vũ L về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Vũ L phạm tội: “ Giao cấu với người từ đủ 13 tuồi đến dưới 16 tuổi”.

Áp dụng khoản 1 Điều 145, điểm b,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Vũ L từ 15 đến 18 tháng tù.

Tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại :

Thống nhất với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đã truy tố đối với Trần Vũ L, với tư cách người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại về phần trách nhiêm dân sự, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại 30.000.000đ. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp cho bị hại và bị cáo thỏa thuận bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại 10.000.000đ , bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm sinh lý của bị hại và thay mặt gia đình của bị hại đề nghị hội đồng xét xử áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận và không kêu oan.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi đến gia đình bị hại và bị hại, qua sự việc vi phạm cảm thấy rất đã ăn năn, hối cải và xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh Trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo L thừa nhận bị cáo biết rõ bị hại đang còn nhỏ tuổi, nhưng vì thấy cha mẹ bị hại không có nhà, bị cáo đã lợi dụng sự nhẹ dạ của bị hại tìm mọi cách để quan hệ tình dục với bị cáo để thỏa mãn dục vọng của mình.

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 244/2020/TD ngày 07/9/2020 của của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Bình Phước kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định:

Âm hộ, môi lớn, môi bé, âm đạo, tầng sinh môn, hậu môn không thấy dấu vết tổn thương.

Màng trinh giãn đường kính khoảng 1,5cm, có vết rách sâu đến chân trinh ở vị trí 7 giờ, còn tấy đỏ, phủ nhiều giác mạc; Vết rách nông ở vị trí 9 giờ còn tấy đỏ.

Vùng hố huyết (vị trí 6 giờ) có vết rách rớm máu

Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vậy tày cứng đường kính 1,5cm tác động trực tiếp gây ra.

Thời gian tác động từ 24 đến 72 giờ

- Soi tìm không thấy tinh trùng. Hiện tại không có thai.

Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là lợi dụng sự nhẹ dạ, thiếu hiểu biết của bị hại bị cáo có những cử chỉ ân cần kích thích sự ham muốn của bị hại sau đó quan hệ tình dục.

Bị cáo là người đã thành niên, giao cấu với người dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo chỉ vì dục vọng không biết tự kìm chế đã thực hiện hành vi giao cấu với bị hại khi người bị hại mới được 14 tuổi 08 tháng 14 ngày.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo khoản 1 điều 145 là hoàn toàn có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự của trẻ em, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của trẻ em.

Do đó, cần có một hình phạt nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng động một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú hợp tác với Cơ quan điều tra khai nhận toàn bộ nội dung vụ án.Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hâu quả bị hại số tiền 30.000.000đ. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện hợp pháp cho bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt số tiền 100.000.000đ, bị cáo trình bày không có khả năng để bồi thường số tiền theo yêu cầu của đại diện bị hại.

Tại phiên tòa, sau khi nghe hội đồng xét xử phân tích các chi phí hợp lý trong việc bồi thường, đại diện hợp pháp cho bị hại thống nhất được số tiền bồi thường tổng cộng 40.000.000đ. Như vậy bị cáo phải bồi thường tiếp cho bị hại 10.000.000đ.

vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra có thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, 01 điện thoại di động hiệu ViVo là tài sản hợp pháp của Trần Thị Ng Giàu cần trả cho bà Giàu.

Thu giữ 01 điện thoại Realem 3 màu xanh, 01 CMND tên Trần Vũ L, 01 xe mô tô Suzukhi Satria màu xanh biển số 93F1-512.66 là tài sản hợp pháp của Trần Vũ L không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo.

Đối 01 mền vải màu hồng có hoa văn kích thước 1,8x1,3, 01 mền vải Caro hình đen trắng xám kích thước 2,3x1,7 m, 01 áo thun dài tay màu trắng, 01 áo thu sát nách dạng đồ ngủ, 01 bộ đồ lót nữ là của bị hại không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy.,

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1 Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Vũ L phạm tội: “ Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

2 Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 145, điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Vũ L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 05/9/2020.

Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

3.Trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 548,585,586 Bộ luật dân sự;

Buộc Trần Vũ L bồi thường tiếp cho bị hại Nguyễn Thị Yến Ng thông qua người đại diện hợp pháp Trần Thị Ng Giàu 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Tính từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành, hàng tháng còn phải chịu một khoản tiền lãi suất theo qui định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tại thời điểm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .

Trả cho bà Trần Thị Ng Giàu 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, 01 điện thoại di động hiệu ViVo 1820 màu xanh lục.

Trả cho Trần Vũ L 01 điện thoại Realem 3 màu xanh, 01 CMND tên Trần Vũ L, 01 xe mô tô Suzukhi Satria màu xanh biển số 93F1-512.66

Tịch thu tiêu hủy 01 mền vải màu hồng có hoa văn kích thước 1,8x1,3, 01 mền vải Caro hình đen trắng xám kích thước 2,3x1,7 m, 01 áo thun dài tay màu trắng, 01 áo thu sát nách dạng đồ ngủ, 01 bộ đồ lót nữ

( Biên bản giao nhận vật chứng số 0006804. ngày 04/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh)

4 Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Trần Vũ L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ