- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Viết Vũ và đồng bọn - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên!bố:!Các bị cáo Bùi!Viết!V,!Nguyễn!Quốc!T,!Trịnh!Cao!C,!Trần! Văn!T1!và!Nguyễn!Anh!T2 phạm tội "§¸nh b¹c”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 10/2020/HSST Ngày 12 tháng 03 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà: Ông Hà Thiện Thành
Các!hội!thẩm!nhân!dân: Ông Đinh Công Hiến và ông Đinh Duy Quyết
!
Thư!ký!toà!án!ghi!biên!bản!phiên!toà: Bà Bùi Hồng Mơ - là thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.
Đại!diện!Viện!kiểm!sát!nhân!dân!huyện!V,!tỉnh!N!tham!gia!phiên!toà: Ông Phạm Công Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 12/03/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2020/HSST ngày 18/02/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2020, đối với các bị cáo:
1. Bùi Viết V (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1991; t¹i x· S, huyện Q, tỉnh N; tró t¹i thôn T, x· S, huyện Q, tỉnh N; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Viết L vµ bµ Trần Thị L; vợ Đinh Thị N, và có 01 con sinh năm 2019; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 04/12/2019. Được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Quốc T (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1993; t¹i x· G, huyện V, tỉnh N; tró t¹i xóm 2, x· G, huyện V, tỉnh N; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang X vµ bµ Vũ Thị N; vợ Lê Thị Ngọc A, và có 01 con sinh năm 2019; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 04/12/2019. Được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Trịnh Cao C (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1991; tại xã T, huyện H, tỉnh N; tró t¹i thôn T, xã T, huyện H, tỉnh N; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Xuân V vµ bµ Nguyễn Thị H; vợ Hoàng Thị P và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 04/12/2019. Được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Trần Văn T1 (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1985; t¹i x· G, huyện V, tỉnh N; tró t¹i xóm 5 P, x· G, huyện V, tỉnh N; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V vµ bµ Nguyễn Thị N; vợ Nguyễn Thị H và có 01 con sinh năm 2013; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 04/12/2019. Được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Nguyễn Anh T (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1996; t¹i x· G, huyện V, tỉnh N; tró t¹i thôn 2 T, x· G, huyện V, tỉnh N; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T vµ bµ Đinh Thị P; vợ Tạ Thị Cẩm V và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/12/2019 đến ngày 04/12/2019. Được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
*Người!làm!chứng:
Bà Vũ Thị T, sinh năm 1963; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Viết V, Trịnh Cao C, Nguyễn Anh T2, Trần Văn T1, Nguyễn Quốc T và anh Phan Đức H, sinh năm 2000, trú tại Khối 2, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Đ là bạn bè quen biết nhau từ trước. Sáng ngày 01/12/2019, V, C, T2, T1, T đến ăn đám cưới nhà anh Vũ Văn Đ ở xã G, huyện V; khoảng 10 giờ cùng ngày sau khi ăn cưới xong V rủ C, Tuấn, Tuyên, Thư đánh bạc bằng hình thức đánh liêng, được thua bằng tiền, Cường, T2, T1, T đều đồng ý. Sau đó, V nói với anh H “Cho anh mượn phòng trọ để cho một số anh em về nghỉ”, anh H đồng ý và dẫn V cùng C, T2, T1, T đến phòng trọ của anh H ở thôn X, xã X, huyện V rồi anh H quay lại đám cưới. Sau đó, V đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đem về phòng trọ của anh H. Khi V đi mua bộ bài về thì C nhìn thấy có 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng ở cuối giường kê ở phòng trọ nên đã lấy bộ bài này cùng với V, T2, T1, T ngồi lên giường đánh bạc bằng hình thức “đánh liêng”, được thua bằng tiền với mức thấp nhất 10.000 đồng/người/ván, mức cao nhất là 50.000 đồng/người/ván. Khoảng 11h cùng ngày, trong khi các bị can đang ngồi đánh bạc thì bị Tổ công tác Công an tỉnh N phối hợp với Công an xã X phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại nơi đánh bạc số tiền 5.200.000 đồng, 03 bộ bài tú lơ khơ. Ngoài ra còn thu giữ trong người của Trịnh Cao C số tiền 800.000 đồng, thu giữ của Nguyễn Quốc T 01 ví giả da mầu đen bên trong có 400.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định, số tiền mà các bị can sử dụng vào việc đánh bạc ngày 01/12/2019 là 6.400.000 đồng (gồm 5.200.000 đồng tại nơi đánh bạc, 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Quốc T, 800.000 đồng thu giữ của Trịnh Cao C)
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-GV ngày 18/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Bùi!Viết!V,!Nguyễn!Quốc!T,!Trịnh!Cao!C,!Nguyễn!Anh! T2!và!Trần!Văn!T1!ra trước Tòa án nhân dân huyện V để xét xử về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Viết V, Nguyễn Quốc T, Trịnh Cao C, Nguyễn Anh T2 và Trần Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Bùi Viết V, Nguyễn Quốc T, Trịnh Cao C, Nguyễn Anh T2 và Trần Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Viết V từ 22.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Quốc T tõ 21.000.000 ®ång ®Õn 22.000.000 ®ång; bị cáo Trịnh Cao C tõ 21.000.000 ®ång ®Õn 22.000.000 ®ång; bị cáo Trần Văn T1 tõ 21.000.000 ®ång ®Õn 22.000.000 ®ång. bị cáo Nguyễn Anh T2 tõ 21.000.000 ®ång ®Õn 22.000.000 ®ång.
Về!xử!lý!vật!chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 6.400.000 đồng (gồm 5.200.000 đồng tại nơi đánh bạc, 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Quốc T, 800.000 đồng thu giữ của Trịnh Cao C).
Tịch thu tiêu hủy 03 bộ bài tú lơ khơ, là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật chứng không có giá trị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Bùi Viết V, Nguyễn Quốc T, Trịnh Cao C, Nguyễn Anh T2 và Trần Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng phạm, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 00 phút ngày 01/12/2019, tại tại phòng trọ của anh Phan Đức H ở thôn X, xã X, huyện V các bị cáo Bùi Viết V, Trịnh Cao C, Nguyễn Anh T2, Trần Văn T1, Nguyễn Quốc T đã sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân đánh bài dưới hình thức “đánh liêng” được, thua bằng tiền đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày bị Công an tỉnh N bắt quả tang thu giữ tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 6.400.000 đồng.
Bộ luật Hình sự quy định:
Điều 321. Tội đánh bạc
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
….
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
. Hành vi của bị cáo Bùi Viết V, Trịnh Cao C, Nguyễn Anh T2, Trần Văn T1, Nguyễn Quốc T đã nêu trên là phạm tội "Đánh bạc", được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công công, an toàn công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ. Đánh bạc đang là một tệ nạn nguy hiểm, bị gia đình, xã hội lên án, Nhà nước ta đang ra sức loại trừ. Vì đánh bạc mà nhiều gia đình bị khánh kiệt, nợ nần chồng chất, nó cũng là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều đã thành niên, nhưng không chịu tu chí làm ăn lương thiện mà lại tham gia đánh bạc kiếm tiền bất chính. Hành vi của các bị cáo bị chính gia đình các bị cáo lên án, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục, cải tạo các bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, vai trò của các bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.
. Đối với Bùi Viết V là người khởi xướng, chủ động rủ rê các bị cáo khác tham gia đánh bạc, rồi cùng các bị cáo khác đánh bạc. Do vËy, Bùi Viết V xÕp vai trß ®Çu trong vô vô ¸n. Đối với Trịnh Cao C, Nguyễn Anh T2, Trần Văn T1, Nguyễn Quốc T ®Òu là đồng phạm, thùc hiÖn téi ph¹m mét c¸ch tÝch cùc. Do vËy, các bị cáo này lÇn lît xÕp vai trß sau cïng trong vô ¸n.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mức độ tham gia vào việc thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly các các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền, tuy là ít nghiêm khắc hơn, nhưng là sự trừng phạt nặng về kinh tế đối với các bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Qu¸ tr×nh ®iÒu tra, còng nh t¹i phiªn Tßa ®· x¸c ®Þnh sè tiÒn bÞ c¸o Bùi Viết V, Trịnh Cao C, Nguyễn Anh T2, Trần Văn T1, Nguyễn Quốc T sử dụng vào việc đánh bạc là 6.400.000 đồng (gồm 5.200.000 đồng tại nơi đánh bạc, 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Quốc T, 800.000 đồng thu giữ của Trịnh Cao C). CÇn tÞch thu sung vào ngân sách Nhµ níc.
Đối với 03 bộ bài tú lơ khơ thu giữ tại chiếu bạc, là công cụ dùng vào việc phạm tội vµ vËt chøng kh«ng cã gi¸ trÞ, cÇn tÞch thu tiªu huû.
Đối với chiếc ví giả da mầu đen thu giữ của Đinh Quốc T là tài sản không liên quan đến việc phạm tội. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả chiếc ví trên cho T, là phù hợp.
. Đối với anh Phan Đức H là người cho các bị cáo mượn phòng trọ của mình, tuy nhiên quá trình điều tra xác định anh H không biết các bị cáo mượn phòng để đánh bạc, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có căn cứ để xử lý với anh Hùng.
VÒ ¸n phÝ: Các bị c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
V× c¸c lÏ trªn.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên!bố:!Các bị cáo Bùi!Viết!V,!Nguyễn!Quốc!T,!Trịnh!Cao!C,!Trần! Văn!T1!và!Nguyễn!Anh!T2 phạm tội "§¸nh b¹c”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Bùi Viết V:
22.000.000 (Hai mươi hai triÖu) ®ång.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T: 21.000.000 (Hai mươi mốttriÖu) ®ång.
+ Xử phạt bị cáo Trịnh Cao C: 21.000.000 (Hai mươi mốt triÖu) ®ång.
+ Xử phạt bị cáo Trần Văn T1: 21.000.000 (Hai mươi mốt triÖu) ®ång.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2: 21.000.000(Hai mươi mốt triÖu) ®ång.
2.!Biện!pháp!tư!pháp!và!xử!lý!vật!chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 6.400.000 đồng (gồm 5.200.000 đồng tại nơi đánh bạc, 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Quốc T, 800.000 đồng thu giữ của Trịnh Cao C).
+ Tịch thu tiêu hủy 03 bộ bài tú lơ khơ thu giữ tại chiếu bạc, là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật chứng không có giá trị; (Số tiền tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước gửi tại tài sản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/02/2020, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.
3. Về!án!phí:!Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Bùi Viết V, Trịnh Cao C, Nguyễn Anh T2, Trần Văn T1, Nguyễn Quốc T mỗi người phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn)đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
N¬i!nhËn:
| -!TAND!tØnh!N;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA! -!VKSND!tỉnh N;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! -!VKSND!huyÖn!V;! -!C«ng!an!huyÖn!V;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! -!Chi cục THADS!huyÖn!!V; -!BÞ!c¸o;! -!Lu!hå!s¬,!v¨n!phßng;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Hà Thiện Thành! (Th«ng!b¸o!cho!chÝnh!quyÒn!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! ®Þa!ph¬ng!n¬i!bÞ!c¸o!c!tró). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |