vanban.org

Bản án 10/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 11/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Phạm Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 13/9/2019. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm b khoản 1Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/HS-ST
Ngày 11 - 03 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Mơ và ông Hoàng Minh Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ –Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Thái Lê Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 03 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2019/TLST - HS ngày 27 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST - HS ngày 27/02/2020 đối với bị cáo:

1. Phạm Văn H, sinh năm 1978, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: T4, thị trấn Đ, huyện S, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 05/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và con bà Nguyễn Thị V; có vợ là Đỗ Thị G và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/9/2019 đến nay - Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Anh Dương Văn H1; vắng mặt.

Địa chỉ: T6, thị trấn Đ, huyện S, tỉnh Đắk Nông

2. Anh Nguyễn Văn Đ; vắng mặt

Địa chỉ: T9, xã N, huyện S, tỉnh Đắk Nông

3. Vũ Đình H2; vắng mặt

Địa chỉ: T7, thị trấn Đ, huyện S, tỉnh Đắk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 13/9/2019 lực lượng Công an huyện Đắk Song phát hiện Dương Văn H1 và Vũ Đình H2 đang chuẩn bị sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực Đài liệt sỹ huyện Đ thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Song bắt lập biên bản. Qúa trình làm việc H1 và H2 khai cùng góp tiền mua ma túy của H để sử dụng. Khi bị bắt H1 giao nộp 01 gói giấy trắng chứa chất bột màu trắng (khai là Heroin) và 02 chiếc xi lanh chưa sử dụng, Vũ Đình H2 giao nộp 01 lọ nước thủy tinh khai để sử dụng ma túy.

Trên cơ sở chứng cứ thu thập được cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn H.

Qúa trình đấu tranh Phạm Văn H khai: Ngày 10/9/2019, Phạm Văn H đi xe buýt lên Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, mua ma túy của đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực siêu thị Coopmark thuộc Km số 3, Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, với số tiền 500.000 đồng, rồi bắt xe buýt đi về huyện Đắk Song. Khi về nhà H dùng số ma túy mua được để sử dụng và 03 lần bán lại cho Dương Văn H1, Nguyễn Văn Đ và Vũ Đình H2, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/9/2019, H1 gọi điện thoại cho H hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng, H đồng ý và hẹn H1 đến nhà rẫy đối tượng tên K (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở sau Trung tâm y tế huyện S, để bán ma túy. H1 đi xe máy một mình đến rẫy nhà đối tượng K. Tại đây, H bán ma túy cho H1 với số tiền 230.000 đồng. Sau đó, H1 mang 01 gói ma túy về nhà sử dụng hết.

Lần thứ hai: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 13/9/2019, Dương Văn H1và Nguyễn Văn Đ trú tại T9, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, góp được số tiền 300.000 đồng. Sau đó, H1 và Đ đi đến nhà H mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến nhà H thì Đ đứng ở ngoài đường cách nhà H 100m, H1 đi vào nhà đứng ngoài cửa sổ nhà H mua của H 01 gói ma túy với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, H1 và Đ sử dụng hết số ma túy này.

Lần thứ ba: Khoảng 09 giờ ngày 13/9/2019, H1 và H2 góp tiền mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy sử dụng. H2 điều khiển xe mô tô BKS: 48F1- 087.42 chở H1 đến nhà Phạm Văn H. Khi cách nhà H khoảng 100m thì H2 ở lại đây, H1 đi một mình đến nhà H mua ma túy. Tại đây, H1 dựng xe trước nhà H đi vào hiên nhà đưa 300.000 đồng qua cửa sổ, H cầm tiền rồi đưa cho H1 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy. Sau đó, H1 cầm gói ma túy chở H2 đến tượng đài liệt sỹ huyện Đ chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Song, phát hiện. H1 đã tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an huyện Đắk Song 01 gói giấy trắng chứa chất bột màu trắng, ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 lọ nước thủy tinh để sử dụng ma túy của Vũ Đình H2.

Qúa trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn H, thu giữ 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng và số tiền 2.110.000 đồng, nằm trong ví da của H, cùng các tang vật khác.

Tại bản kết luận giám định số 69/KLMT-PC09 ngày 19/9/2019, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận.

- Chất bột màu trắng thu giữ của Dương Văn H1 là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0779 gam, là hêrôin. Hoàn lại sau giám định còn 0,0406 gam.

- Chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn H là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0238 gam, là hêrôin. Hoàn lại sau giám định còn 0,0107 gam.

Tại bản cáo trạng số 02/CTr-VKS ngày 26/12/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; các điểm s, r khoản 1 Điều 51BLHS;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 13/9/2019.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 0,0513 gam hêrôin đã thu được của H và H1 được hoàn lại sau khi giám định, 02 bơm kim tiêm, 03 lọ nước thủy tinh, 01 dao rọc giấy; 18 tờ giấy dạng giấy lịch treo tường; 11 mảnh giấy được cắt từ các tờ lịch; 01 quyển vở học sinh có 96 trang; 01 dao lam; 02 mảnh giấy bạc.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia chứa sim số 0862554846 mà H dùng liên lạc để bán ma túy và số tiền 830.000 đồng thu lợi từ việc bán trái phép chất ma túy.

Trả lại cho Phạm Văn H 01 giấy chứng minh nhân dân số 245106036 mang tên Phạm Văn H cấp ngày 28/01/2019; số tiền 1.280.000 đồng và 01 ví da màu nâu cho Phạm Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

Bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có ý kiến thay đổi lời khai về phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án: Để có ma túy sử dụng và bán lại để kiếm lời, ngày 10/9/2019, Phạm Văn H đã đến địa điểm tại km số 3 thuộc Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk mua Heroine của một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch với số tiền 500.000 đồng rồi mang về nhà tại T4, thị trấn Đ, huyện S, tỉnh Đắk Nông, chia nhỏ số Herôine ra để bán. Qúa trình điều tra, Phạm Văn H khai đã 03 lần bán Herôine cho các đối tượng Dương Văn H1, Nguyễn Văn Đ và Vũ Đình H2 với tổng số tiền 03 lần bán là 830.000 đồng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Song phát hiện, bắt giữ. Qúa trình đấu tranh các đối tượng mua ma túy H2, Đ, H1 khai cùng góp tiền mua chung ma túy để sử dụng các lần như H trình bày trên, một người ở ngoài chờ, 01 đối tượng vào mua. Thu giữ tổng trọng lượng Herôine là 0,1017 gam hêrôin. Tổng trọng lượng Herôine hoàn lại sau giám định là 0,0513 gam. Như vậy, hành vi trên của bị cáo H đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b,c tại khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) ….;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên.

…..

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm khác. Chất ma túy (Hêrôin) có tác hại tàn phá sức khỏe, gây ảnh hưởng các chức năng trong cơ thể, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe con người và là nguồn gốc lây lan các căn bệnh nguy hiểm khác. Bị cáo tuy nhận thức được sự nguy hiểm của Herôin nhưng bị cáo vì muốn hưởng lợi từ việc bán ma túy và có ma túy để sử dụng, bị cáo vẫn có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần cho các đối tượng H2, Đ và H1. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần xét xử nghiêm phù hợp với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo.

Về các tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai ra các hành vi phạm tội trước đó, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, từ trước đến nay bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song về các tình giảm nhẹ và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Phạm Văn H tại Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã thông báo đến Công an Tp Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, để điều tra xử lý theo quy định.

Đối với hành vi mua ma túy về sử dụng của các đối tượng Dương Văn H1, Nguyễn Văn Đ, Vũ Đình H2, cơ quan Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mỗi đối tượng số tiền 750.000 đồng.

. Về vật chứng của vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với 0,0513 gam hêrôin đã thu được của H và H1 được hoàn lại sau khi giám định, 02 bơm kim tiêm, 03 lọ nước thủy tinh, 01 dao rọc giấy; 18 tờ giấy dạng giấy lịch treo tường; 11 mảnh giấy được cắt từ các tờ lịch; 01 quyển vở học sinh có 96 trang; 01 dao lam; 02 mảnh giấy bạc không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia chứa sim số 0862554846 mà H dùng để bán ma túy và số tiền 830.000 đồng thu lợi từ việc bán trái phép chất ma túy, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Trả lại cho Phạm Văn H 01 giấy chứng minh nhân dân số 245106036 mang tên Phạm Văn H cấp ngày 28/01/2019; số tiền 1.280.000 đồng (Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) và 01 ví da màu nâu là giấy tờ tùy thân và tài sản hợp pháp của Phạm Văn H không sử dụng vào việc phạm tội.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251 BLHS; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS:

Xử phạt Phạm Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 13/9/2019.

2.Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm b khoản 1Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,0513 gam Hêrôin, 02 bơm kim tiêm, 03 lọ nước thủy tinh, 01 dao rọc giấy; 18 tờ giấy dạng giấy lịch treo tường; 11 mảnh giấy được cắt từ các tờ lịch; 01 quyển vở học sinh có 96 trang; 01 dao lam; 02 mảnh giấy bạc.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia chứa sim số 0862554846 và số tiền 830.000 đồng (Tám trăm ba mươi nghìn đồng).

Trả lại cho Phạm Văn H 01 giấy chứng minh nhân dân số 245106036 mang tên Phạm Văn H cấp ngày 28/01/2019; số tiền 1.280.000 đồng (Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) và 01 ví da màu nâu là giấy tờ tùy thân và tài sản hợp pháp của Phạm Văn H.

(Đặc điểm vật chứng và số tiền đã giao theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đắk Song ngày 30/12/2019).

3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4.Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ