- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HS-ST Ngày 26 tháng 02 năm 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diện.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Ngọc Luân.
- Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2020/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXX-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh năm 1972; nơi ĐKKHTT: Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P (Đã chết) và bà Tô Thị S; có vợ: Bùi Thị L và 01 con, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 18/12/2019, tạm giam ngày 24/12/2019. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Đại Vương - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam. Có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Hoàng Quốc T, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ 6, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Anh Hoàng Văn N, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/12/2019, Trần Văn Đ đang ở nhà tại thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam thì có N ở thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam gọi điện thoại cho Đ nói “Em N đây, em chưa có tiền trả anh” thì Đ nói “Thế chú kiếm cho anh tý hàng chơi anh xoá nợ cho”. N hiểu ý Đ bảo N kiếm ma tuý cho Đ nên đồng ý nói “OK để em kiếm cho”. Khoảng 01 giờ sau Nam gọi điện thoại cho Đ hẹn ra quán cà phê Mộc ở tổ 2, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam. Sau khi nghe điện thoại xong, Đ điều khiển xe mô tô BKS 90B2-045.12 đến quán cà phê Mộc gặp N. N đưa Đ 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng đục. Đ biết đó là ma tuý cầm cất vào túi quần nói: “Anh xoá nợ cho chú đây”. N đứng dậy ra về còn Đ ngồi lại uống cà phê khoảng 10 phút sau thì bị Công an huyện Kim Bảng phát hiện, bắt quả tang, thu tại túi quần phía trước bên phải của Trần Văn Đ đang mặc 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng đục được niêm phong ký hiệu QT01. Thu trong lòng bàn tay trái của Trần Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và 01 xe mô tô BKS 90B2-045.12. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ không phát hiện, thu giữ được gì.
Tại bản kết luận giám định số 255/PC09- MT ngày 20/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,271gam, loại Heroine.
Về nguồn gốc ma túy: Trần Văn Đ khai nhận là của người tên N ở thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam mua hộ. Ngoài lời khai của Trần Văn Đ thì không có tài liệu, chứng cứ nào xác định Nguyễn Văn N cung cấp chất ma tuý cho Đ nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý Nguyễn Văn N theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSKB ngày 13/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất Viện kiểm sát đề xuất. Bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, ý kiến của người bào chữa cho bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ ngày 18/12/2019, tại quán cà phê Mộc ở tổ 2, thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang Trần Văn Đ tàng trữ trái phép 0,271gam Heroine mục đích để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ đó là chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,271gam Heroine, mục đích để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm, song để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm trong xã hội. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử phạt nghiêm minh mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có mẹ đẻ được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, không nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Bị cáo khai của người tên là N ở thôn D, xã L, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đưa cho bị cáo. Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng đã nhiều lần triệu tập Nguyễn Văn N, sinh năm 1982 ở thôn D, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam để đấu tranh làm rõ, nhưng N không có mặt ở địa phương nên không triệu tập được. Ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu, chứng cứ nào xác định Nguyễn Văn N đã cung cấp chất ma tuý cho bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã yêu cầu Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Gồm: 01 (một) phong bì niêm phong nguyên vẹn số 225/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01 là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động màu xanh, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung, m¸y ®· qua sö dông là tµi s¶n của bị cáo dùng liên lạc nhờ Nam lấy ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 47; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc xe mô tô BKS90B2-045.12 mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, được xác định là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị L, chị L không biết bị cáo lấy xe mô tô để sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng đã trả lại cho chị L là có cơ sở. Sau khi chị L nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày bắt tạm giữ 18 tháng 12 năm 2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong nguyên vẹn số 225/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01. Tích thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màu xanh, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung, m¸y ®· qua sö dông. (Tình trạng, số lượng, loại vật chứng cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 13/01/2020).
4. Án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Công an huyện Kim Bảng; - T.H.A dân sự huyện Kim Bảng; - Bị cáo; Người có quyền NVLQ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diện |