- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Việt L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HS-ST Ngày 28/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tưởng và bà Lý Thuý Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Doanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2020/TLST- HS ngày 10 tháng 02 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST- HS ngày 17/02/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Việt L, sinh ngày 28/10/1974, tại Tuyên Quang.
Nơi cư trú: tổ 14, phường Trần Ph, thành phố G, tỉnh G. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; con ông: Bùi Nghĩa Nh, sinh năm 1942 và bà: Đỗ Thị N, sinh năm 1946; vợ: Bùi Thị Nh, sinh năm 1978; con 01 con sinh năm 2005.
Tiền án: 02 tiền án.
- Bản án số 39/2013/ HSST ngày 24/5/2013 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Bản án số 79/2016/ HSST ngày 09/9/2016 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (ra trại ngày 01/7/2018).
Tiền sự: Không.
* Nhân thân: Bản án số 02/2008/ HSST ngày 17/01/2008 của Toà án nhân dân huyện xí mần, tỉnh Hà Giang xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2019, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 30/10/2019, Bùi Việt L, cư trú tại tổ 14, phường Trần Phú, thành phố G, tỉnh G (đã có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích) đi bộ từ tổ 10, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang đến khu vực đầu cầu Nông Tiến, thuộc tổ 3, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang, L gặp và hỏi mua được 01 gói nhỏ Heroine gói ngoài bằng ni lon màu trắng, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ với số tiền 120.000 đồng. L cầm gói Heroine cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi về đến khu vực tổ 10, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố Tuyên Quang đang làm nhiệm vụ phát hiện, đã yêu cầu L về trụ sở Công an thành phố Tuyên Quang làm việc và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ trong túi quần bên trái của L đang mặc 01 gói Heroine được gói ngoài bằng ni lon màu trắng, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng.
Tại Kết luận giám định số 735/GĐKTHS ngày 01/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất màu trắng ngà trong gói nhỏ thu giữ của Bùi Việt L gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine số thứ tự 09 thuộc danh mục IA, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; khối lượng 0,053g (không phẩy không năm ba gam).
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Bùi Việt L, kết quả dương tính, có chất ma túy trong cơ thể, L khai nhận ngày 27/10/2019 sử dụng Heroine bằng hình thức đốt hít vào cơ thể;
Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSTP ngày 07 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Bùi Việt L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Việt L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Bùi Việt Lâm, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có 0,033 g Heroine.
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Việt L tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 30/10/2019, tại tổ 10, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Bùi Việt L, cư trú tại tổ 14, phường Trần P, thành phố G, tỉnh G, đã có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích, đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,053g (không phẩy không năm ba gam) Heroine, mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,053g (không phẩy không năm ba gam) Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo đã có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định, cần chấp nhận.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bố mẹ đẻ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có tài sản, không có việc làm, thu nhập không ổn định, bị cáo tàng trữ trái phép ma tuý không nhằm mục đích vụ lợi. Do vậy, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma tuý mà bị cáo tàng trữ cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 27/10/2019 của bị cáo Bùi Việt L. Ngày 25/11/2019 Công an thành phố Tuyên Quang đã xử phạt vi phạm hành chính (phạt cảnh cáo) nên HĐXX không xem xét.
Đối với người đàn ông, theo bị cáo khai nhận ngày 30/10/2019 đã bán Heroine cho bị cáo tại khu vực gần cầu Nông Tiến thuộc tổ 3, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang nhưng không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Bùi Việt L, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có 0,053g Heroine là vật chứng của vụ án là vật cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Việt L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Bùi Việt L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (30/10/2019).
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm trên các mép dán có chữ ký của Bùi Việt Lâm, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có 0,033g (không phẩy không ba ba gam) Heroine là đối tượng giám định hoàn lại.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 17/02/2020)
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - VKSND TP Tuyên Quang; - Công an TP Tuyên Quang; - Chi cục THA.DS TP. Tuyên Quang; - UBND phường T; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lý Thuý Hà – Nguyễn Thị Tưởng | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Lan THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Lan |