- Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. - phạm tội vi p…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật hình sự xử; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TA TỈNH PHÚ YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HS-ST Ngày 01 – 6 – 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cơ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Tân - Phó hiệu trưởng Trường THCS Đinh Tiên Hoàng và ông Nguyễn Mạnh Tiến - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tài - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Bùi Văn V, sinh ngày: 22/7/2002, tại tỉnh Phú Yên; ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn PS, xã ANĐ, huyện TA, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Bùi Văn M, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980; Cùng địa chỉ: Thôn PH, xã ANĐ, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Đều có mặt tại phiên tòa.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Danh T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
Đại diện hợp pháp của bị hại: Vợ chồng ông Lê Hùng A, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1965; Cùng địa chỉ: Thôn PH, xã ANĐ, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Ông A, bà Ng ủy quyền cho ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn PH, xã ANĐ, huyện TA, tỉnh Phú Yên theo giấy ủy quyền ngày 16/6/2019. Ông H có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn M, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980; Cùng địa chỉ: Thôn PH, xã ANĐ, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Đều có mặt tại phiên tòa.
Những người làm chứng:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn PL, xã ANĐ, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Thị Kim B, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn PL, xã ANĐ, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Đặng Tấn Th, sinh ngày 16/10/2002, người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1976; Cùng địa chỉ: Thôn PS, xã ANĐ, huyện TA, tỉnh Phú Yên. Đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 15/4/2019, Bùi Văn V không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 78T1-7981 chở Nguyễn Đặng Tấn Th lưu hành trên đường ĐH31 hướng từ xã ANĐ đến xã ANT. Khi đến Km 07+50 đoạn qua thôn PH, xã ANĐ, huyện TA, V phát hiện xe mô tô biển kiểm soát: 78H1-160.68 do Nguyễn Văn T điều khiển lưu hành cùng chiều phía trước chạy chậm nên xin vượt, đồng thời V cũng phát hiện phía trước có đèn xe mô tô biển kiểm soát: 78H1- 033.87 do Nguyễn Minh H điều khiển lưu hành ngược chiều. Lúc này V điều khiển xe vượt qua bên trái xe anh T, lấn sang làn đường bên trái theo hướng lưu hành nên phần bên trái xe V va chạm với phần bên trái xe H gây tai nạn. Hậu quả anh H chết khi đang cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định, V và Th bị thương.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 78 ngày 17/5/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên (BL 56, 57) kết luận: Nguyễn Minh H chết do chấn thương sọ não, nồng độ cồn trong máu hàm lượng 61,37mg/100ml máu.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS-HS ngày 03/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện TA đã truy tố bị cáo Bùi Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Bùi Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Đồng ý chịu trách nhiệm bồi thường thay cho bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Minh H trình bày: Về dân sự hai gia đình đã tự thỏa thuận xong nên không yêu cầu giải quyết, về hình sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn M và bà Nguyễn Thị Th trình bày: Ông, bà tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo nên không có yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Bùi Văn V, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 91 và 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo V từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về dân sự: Không xem xét
Vật chứng vụ án:
Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 đứng tên Nguyễn Minh H.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cái yên xe mô tô biển kiểm soát 78T1-7981; 01 mẫu bọc cao su tay nắm lái phía bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 78T1-7981; 01 mẫu bọc cao su tay nắm lái phía bên trái có bám dính tạp chất màu đen của xe mô tô biển kiểm soát 78H1- 033.87; 01 mẫu mảnh nhựa màu đen tại yếm chăn gió phía bên trái xe mô tô biển kiểm soát 78H1- 033.87; 01 mẫu tạp chất màu nâu thẩm thu tại vị trí số 7 hiện trường vụ tai nạn giao thông; 01 mẫu máu tử thi Nguyễn Minh H; 01 số mãnh vỡ kính, nhựa, cao su thu tại vị trí số 8 hiện trường vụ tai nạn giao thông; 01 cái áo sơ mi dài tay màu đen, 01 cái quần đùi vải màu nâu vì không còn giá trị sử dụng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Hành vi của bị cáo gây ra cáo trạng đã truy tố là đúng nhưng mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị giam là quá nghiêm khắc với bị cáo vì bị cáo chưa đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TA, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TA, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 15/4/2019, Bùi Văn V không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đặng Tấn Th lưu hành từ xã ANĐ đến xã ANT. Khi đến Km 07+50 đoạn qua thôn PH, xã ANĐ, huyện TA, V điều khiển xe lấn sang phần đường xe ngược chiều để vượt xe bên phải thiếu quan sát gây tai nạn với xe mô tô của anh Nguyễn Minh H điều khiển lưu hành đúng phần đường làm anh H chết khi đang cấp cứu tại bệnh viện. Với hành vi và hậu quả như vậy, bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình như bản cáo trạng số 06/CT-VKS-HS ngày 03/01/2020 truy tố bị cáo là có căn cứ.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ, ảnh hưởng đến đời sống xã hội nên phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bà nội bị cáo là người có công trong cuộc kháng chiến chỗng Mỹ cứu nước. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự xét giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm lao động, cải tạo, tu dưỡng đạo đức trở thành người có ích cho xã hội.
Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi vi phạm ngày 15/4/2019 bị cáo mới 16 tuổi 08 tháng 23 ngày nên nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật chưa đầy đủ, thực hiện hành vi với lỗi vô ý vì quá tự tin, tại thời điểm xảy ra tai nạn bị cáo cũng bị thương nặng hiện nay đang phải điều trị. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, 101 Bộ luật hình sự xử theo mức đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn với mức áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội nhằm mục đích giáo dục, giúp đở bị cáo sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Không chấp nhận đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo được hưởng án treo vì không có căn cứ.
Về phần dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại và gia đình bị cáo đã giải quyết xong không có yêu cầu nên không xem xét.
Vật chứng vụ án:
Trả cho đại diện hợp pháp của bị hại: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 dứng tên Nguyễn Minh H.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cái yên xe mô tô biển kiểm soát 78T1-7981; 01 mẫu bọc cao su tay nắm lái phía bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 78T1-7981; 01 mẫu bọc cao su tay nắm lái phía bên trái có bám dính tạp chất màu đen của xe mô tô biển kiểm soát 78H1- 033.87; 01 mẫu mảnh nhựa màu đen tại yếm chăn gió phía bên trái xe mô tô biển kiểm soát 78H1- 033.87; 01 mẫu tạp chất màu nâu thẩm thu tại vị trí số 7 hiện trường vụ tai nạn giao thông; 01 mẫu máu tử thi Nguyễn Minh H; 01 số mãnh vỡ kính, nhựa, cao su thu tại vị trí số 8 hiện trường vụ tai nạn giao thông; 01 cái áo sơ mi dài tay màu đen, mặt bên trong cổ áo có dòng chữ “Q&M made in Việt Nam”, trên ngực áo trái có gắn miếng cao su màu đen in dòng chữ “*JINLAN*78*Collection”, 01 cái quần vải màu nâu vì không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn V 01 (một) năm tù, thời hạn tù kế từ ngày bắt thi hành án.
Vật chứng vụ án:
Trả cho đại diện hợp pháp của bị hại 01 giấy phép lái xe hạng A1 đứng tên Nguyễn Minh H.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cái yên xe của xe mô tô biển kiểm soát 78T1-7981; 01 mẫu bọc cao su tay nắm lái phía bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 78T1-7981; 01 mẫu bọc cao su tay nắm lái phía bên trái có bám dính tạp chất màu đen của xe mô tô biển kiểm soát 78H1- 033.87; 01 mẫu mảnh nhựa màu đen tại yếm chăn gió phía bên trái xe mô tô biển kiểm soát 78H1- 033.87; 01 mẫu tạp chất màu nâu thẩm thu tại vị trí số 7 hiện trường vụ tai nạn giao thông; 01 mẫu máu tử thi Nguyễn Minh H; 01 số mãnh vỡ kính, nhựa, cao su thu tại vị trí số 8 hiện trường vụ tai nạn giao thông; 01 cái áo sơ mi dài tay màu đen, mặt bên trong cổ áo có dòng chữ “Q&M made in Việt Nam”, trên ngực áo trái có gắn miếng cao su màu đen in dòng chữ “*JINLAN*78*Collection”, 01 cái quần vải màu nâu theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TA với Chi cục thi hành án dân sự huyện TA ngày 07/01/2020.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Bị cáo Bùi Văn V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Bị cáo;
- Đương sự;
- VKSND huyện TA;
- VKSND tỉnh Phú Yên;
(Đã ký)
- Công an huyện TA;
- Cơ quan THA hình sự;
- Chi cục THA DS huyện TA;
- Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Cơ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán...,đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6)ghiđầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tênKiểm sát viênthực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14)và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họtên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự;nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhâncó liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sựvà những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |