- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn H - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 10/2020/HS-ST Ngày: 16/01/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Thanh Hồng
2. Ông Lò Văn Ơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nhữ Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/ QĐXXST- HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Lường Văn H, tên gọi khác: không; sinh năm: 1993 tại Điện Biên;
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Bản H, phường H1, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên;
Chỗ ở: Bản P, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn Th và bà Lò Thị H, có vợ là Lò Thị Th, bị cáo có 01 con. Tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2013 bị cáo bị đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng theo quyết định số 658 ngày 06/9/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, ngày 07/9/2015 đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/10/2019, sau đó bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thanh L - Sinh năm: 1967; Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 h ngày 23/10/2019, Lường Văn H đi bộ từ bản Pe Luông, xã Thanh Luông, huyện Điện Biên đến ngã ba bản Nọong Tóng, xã Thanh Luông, huyện Điện Biên để tìm mua ma túy để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Tại đây, Lường Văn H đã gặp và mua của một người đàn ông không r tên, tuổi, địa chỉ được 01 gói Heroine với giá 200.000đ. Sau khi mua, H mang về nhà và chia số ma túy mua được thành 03 gói, đều gói bằng giấy bạc màu vàng. H cất hai gói vào túi quần bên phải đang mặc, gói còn lại H lấy sử dụng một ít, phần còn lại H cất dưới đệm giường ngủ của mình. Vào khoảng 8h sáng ngày 24/10/2019 khi H đang ở nhà thì có Lê Thanh L tới hỏi mua Heroine, L đưa H 100.000 đ, H nhận tiền và đưa cho L 01 gói Heroine. Sau đó H đi ra khu bếp để đánh răng, L ở trong nhà đã lấy Heroine ra sử dụng hết, H không biết L sử dụng ma túy tại nhà mình. Hồi 8h30' cùng ngày, tổ công tác Đồn Biên phòng Thanh Luông phối hợp với cán bộ phòng Phòng chống ma túy Bộ đội Biên Phòng tỉnh Điện Biên vào nhà H kiểm tra đã phát hiện bắt quả tang thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của H 01 gói Heroine có khối lượng 0,16 gam và 01 tờ tiền 100.000 đ. Hồi 12h cùng ngày Đồn Biên phòng Thanh Luông khám xét khẩn cấp nơi ở của H đã phát hiện thu giữ dưới đệm đầu giường ngủ của H 01 gói Heroine có khối lượng 0,04 gam.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra của cơ quan điều tra; quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSĐB ngày 12/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lường Văn H với mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Lường Văn H gồm: 0, 2 gam Heroine đã trích mẫu giám định 0,09 gam còn lại 0,11 gam, tịch thu sung ngân sách nhà nước 100.000 đ thu giữ của H là tiền do phạm tội mà có; Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 19 h ngày 23/10/2019, Lường Văn H đã có hành vi mua, cất giấu ma túy để bản thân sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Vào khoảng 8h sáng ngày 24/10/2019, tại nhà mình H đã bán cho Lê Thanh L 01 gói Heroine với giá 100.000 đ. Hồi 8h30' cùng ngày, H đã bị bắt quả tang, bị thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc 01 gói Heroine có khối lượng 0,16 gam và 01 tờ tiền 100.000 đ. Khám xét khẩn cấp nơi ở của H Đồn Biên phòng Thanh Luông tiếp tục phát hiện, thu giữ dưới đệm đầu giường ngủ của H 01 gói Heroine có khối lượng 0,04 gam. Hành vi của H đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi trên của bị cáo đã được chứng minh tại các biên bản: bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đồ vật tài liệu, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án, tại kết luận giám định, các lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
Như vậy Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị cáo H có tội, bị cáo đã phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi trên của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm trọng, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Hành vi phạm tội của bị cáo là đơn lẻ, xuất phát từ động cơ vụ lợi và thỏa mãn ham muốn của cá nhân, coi thường pháp luật; mục đích của bị cáo khi thực hiện hành vi là nhằm hưởng lợi, kiếm lời, thỏa ý muốn riêng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; nhằm thể hiện tính nghiêm minh, nghiêm khắc và răn đe của pháp luật với tội phạm và những hành vi vi phạm pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đề xuất áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở nên cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng có thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và không có tài sản gì có giá trị lớn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên phù hợp với quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên cần chấp nhận: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Lường Văn H gồm 0,2 gam Heroine đã trích mẫu giám định tổng cộng 0,09 gam còn lại 0,11 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 100.000 đ thu giữ của H là tiền do phạm tội mà có.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Về các vấn đề khác có liên quan: Lường Văn H khai mua ma túy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm r . Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người này.
Đối với Lê Thanh L đã bị Công an huyện Điện Biên xử lý hành chính đúng qui định nên hội đồng xét xử không đề cập.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người này đều đảm bảo tính hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn H 02 (hai) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (24/10/2019).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Lường Văn H gồm 0,2 gam Heroine đã trích mẫu giám định 0,09 gam còn lại 0,11 gam; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 100.000 đ thu giữ của H (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/12/2019 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.)
4. Về án phí: Bị cáo Lường Văn H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lường Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/01/2020). Người có nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát huyện ĐB; - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên; - Công an huyện ĐB; - Bị cáo; Người có nghĩa vụ liên quan. - Chi cục Thi hành án DSHĐB; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Nhà tạm giữ CAHĐB; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ vụ án; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguy n Thanh Ng c |