- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Q (Hải) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HS-ST Ngày 06 - 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm
Ông Nguyễn Văn Sol
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 5 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2020/TLST-HS, ngày 17 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 3 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Minh Q, sinh năm 1991, tại huyện C, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Hải; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú, chỗ ở: ấp Bào Vũng, xã tân Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Dũng, sinh năm 1958 và bà Trương Thị Hồng, sinh năm 1960; Tiền sự: Không; Tiền án: 02 tiền án:
- Ngày 21/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 22/12/2013.
- Ngày 14/7/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2018; về trách nhiệm dân sự chấp hành xong vào ngày 21/9/2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2020 sau đó chuyển tạm giam đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 17/01/2020 Phạm Minh Q từ nhà ở ấp Bào Vũng, xã Tân Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau một mình điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 69B1-372.24 đi thành phố Cà Mau để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến thành phố Cà Mau thì Q chạy lòng vòng sau đó đến khu vực dốc cầu Gành Hào (thuộc phường 8 thành phố Cà Mau) gặp người phụ nữ tên Vy (chưa xác định được địa chỉ, họ tên cụ thể) mua 02 gói ma túy đá với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Sau khi nhận được ma túy, Q giấu vào trong quần lót đang mặc trên người và điều khiển xe về nhà, lúc này khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày. Khi Q đi đến khu vực ấp Hưng Thành, xã Phú Hưng, huyện C thì bị lực lượng Phòng cảnh sát điều tra về ma túy Công an tỉnh Cà Mau kết hợp Công an huyện C, đề nghị dừng phương tiện kiểm tra và qua kiểm tra trên người của Q phát hiện 02 gói nilon bên trong có chất bột màu trắng nên tiến hành thu giữ và mời Q về trụ sở Công an xã làm việc và Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (bút lục số: 21, 22, 47-50, 78, 79).
Vật chứng liên quan trong vụ án thu giữ gồm:
- 02 (hai) gói nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn nghi là ma túy (được niêm phong);
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen (màn hình bị vỡ) có gắn thẻ sim số seri 8984048000060802271 (điện thoại của Q);
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HonDa, số loại: AIRBLADE, số máy: JE18E5437806; Số khung: 18068Y828421, Biển số kiểm soát 69B1-372.24 (bút lục số: 34, 35).
Tại kết luận giám định số 32/KL-GĐH-PC09 ngày 19/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:
Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 02 (hai) gói nilon màu trắng, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.02/2020 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,4459gam, loại Methamphetamine (bút lục số: 20, 21).
Bản cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 13 tháng 3 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố Phạm Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh Q mức án từ 05 (Năm) năm tù đến 06 (Sáu) năm tù.
Xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao bì được niêm phong số 32/GĐH-PC09 ngày 19/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau.
Trả lại cho bị cáo Phạm Minh Q (Hải): 01 (một) điện thoại hiệu Samsung màu xanh đen (màn hình bị vỡ) có gắn thẻ sim số seri 8984048000060802271 của Q.
Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo Q nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Minh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Vào khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 17 tháng 01 năm 2020 tại ấp Hưng Thành, xã Thạnh Phú, huyện C, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,4459 gam, nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được chất ma túy là rất độc hại, cấm tàng trữ trái phép, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân và có thể làm phát sinh một số loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy và cũng có điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét nhân thân, tính tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 2 Điều 35; khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với người phụ nữ tên Vy bán ma túy cho Q hiện chưa xác định được địa chỉ, họ, tên đầy đủ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tách ra khi nào làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon đa, số loại: AIRBLADE, số máy: JE18E5437806; số khung: 18068Y828421; biển số đăng ký: 69B1-37224 của chị Trang Thúy Duy cho Q thuê. Chị Duy không biết Q làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại chị Duy là đúng theo quy định.
- 01 (một) bao bì được niêm phong số 32/GĐH-PC09 ngày 19/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau. Bên trong có chứa chất ma túy là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung màu xanh đen (màn hình bị vỡ) có gắn thẻ sim số seri 8984048000060802271 của Q. Tài sản này không có liên quan đến việc bị cáo phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Q (Hải) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Q (Hải) 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/01/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao bì được niêm phong số 32/GĐH-PC09 ngày 19/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau.
Trả lại cho bị cáo Phạm Minh Q (Hải): 01 (một) điện thoại hiệu Samsung màu xanh đen (màn hình bị vỡ) có gắn thẻ sim số seri 8984048000060802271 của Q.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang quản lý).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Minh Q (Hải) phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - CC-THADS huyện C; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu HS-VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Minh Tính |