- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị Kim Th được ly hôn với ông Hồ Nhật Đ.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 10/2020/HNGĐ -ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 13 - 3 - 2020 V/v “Ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tỉnh
Bà Võ Thị Bời
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 569/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXX-ST ngày 07 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim Th – sinh năm 1997
HKTT: 02 thôn Th, xã V, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa.
Hiện tạm trú: Thôn P, xã Đ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Hồ Nhật Đ – sinh năm 1992
HKTT: 02 Th, xã V, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 03/9/2019, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Trần Thị Kim Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hồ Nhật Đ tự nguyện kết hôn vào ngày 21/6/2017 tại UBND xã V, thành phố Nha Trang.
Cuộc sống hôn nhân một năm đầu tương đối đầm ấm, vui vẻ, nhưng khoảng hơn một năm gần đây do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, kĩnh cãi nhau, ông Đ thường xuyên nhậu nhẹt rồi về gây gổ, xung đột với gia đình và có hành vi bạo lực. Nghĩ thương con gái nhỏ, bà Th cố gắng nhẫn nhịn bỏ qua để dung hòa cuộc sống nhưng cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn theo ý muốn được, nếu vì con mà tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân này sẽ kéo dài thêm sự tổn thương, càng ảnh hưởng đến con và gây căng thẳng cho gia đình hai bên. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, đã sống ly thân, mệnh ai người nấy sống, không còn quan tâm đến nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa bà và ông Hồ Nhật Đ.
Về con chung: Bà Trần Thị Kim Th và ông Hồ Nhật Đ có một con chung là Hồ Nhật A, sinh ngày 08/9/2017. Bà Th xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn, ông Hồ Nhật Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn được biết, và trong quá trình giải quyết vụ án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như không thể tiến hành hòa giải được.
* Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Xét mâu thuẫn giữa bà Th và ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Ông Đ, bà Th có một con chung là Hồ Nhật A, sinh ngày 08/9/2017. Cháu A còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, bàTh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là chính đáng, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con. Tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Hồ Nhật Đ, nhưng ông Đ đều vắng mặt không có lý do, và tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai ông Đ vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn bà Trần Thị Kim Th có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim Th và ông Hồ Nhật Đ tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn, được UBND xã V, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 21/6/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của bà Th thì giữa bà và ông Đ trong quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm sống, làm cho không khí gia đình luôn căng thẳng và ngột ngạt. Cuộc sống hôn nhân giữa bà Th và ông Đ không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân này được nữa.
Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Đ, tại thông báo có nêu rõ yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà bàTh đã giao nộp cho Tòa án, đồng thời đã nhiều lần triệu tập ông Đ đến Tòa án làm việc để anh trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà Th, cũng như thông báo để ông Đ đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, nhưng ông Đ đều vắng mặt không có lý do. Như vậy, lời khai của bà Th về việc gia đình bà có mâu thuẫn, không có hạnh phúc gia đình là có cơ sở. Việc ông Đ không đến Tòa án để làm việc, để tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa sơ thẩm chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa bà Th và ông Đ không có hạnh phúc và ông Đ cũng không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình; hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th.
Về con chung: Bà Trần Thị Kim Th và ông Hồ Nhật Đ có một con chung là Hồ Nhật A, sinh ngày 08/9/2017. Cháu Hồ Nhật A còn nhỏ lại là con gái nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, hiện nay cháu đang sống chung với mẹ nên yêu cầu của bà Th về việc trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến tuổi trưởng thành là chính đáng, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà Th.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Th không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Trần Thị Kim Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình 2015;
- Căn cứ Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 và các điều 227, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị Kim Th được ly hôn với ông Hồ Nhật Đ.
2. Giao con chung Hồ Nhật A, sinh ngày 08/9/2017 cho bà Trần Thị Kim Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi tuổi trưởng thành. Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Th không yêu cầu.
Ông Đ có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Vì lợi ích của con, khi cần thiết ông Đ và bà Th có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.
3. Bà Trần Thị Kim Th phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0015221 ngày 12/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà Th đã nộp đủ án phí.
4. Bà Trần Thị Kim Th và ông Hồ Nhật Đ được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Tp. Nha Trang; - THADS Tp. Nha Trang; - UBND xã V, TP. Nha Trang (ĐKKH số 31/2017) - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phan Thị Tú Vinh |