- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Quỳnh G được ly hôn anh Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST Ngày 10-3-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Minh Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lợi
Bà Đồng Thị Thường
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Mai Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 477/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2020, Thông báo về việc thay đổi Kiểm sát viên số 12/TB-TA ngày 21 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Quỳnh G; Nơi cư trú: Thôn 2, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Văn T; Nơi cư trú: Thôn 2, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đinh Thị Quỳnh G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Lê Văn T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng vào năm 2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại thôn 2, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Anh T ham chơi bời, bị bạn xấu rủ rê thường xuyên đi sớm về khuya, đôi khi còn đi qua đêm không về nhà. Chị có góp ý nhưng anh T không tiếp thu sửa chữa. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình bố, mẹ hai bên hòa giải nhưng không có kết quả. Từ ngày 03 tháng 3 năm 2020 đến nay, chị đã bỏ nhà đi cư trú tại phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, còn anh T cư trú tại nhà của vợ chồng. Chị và anh T không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn T.
Về con chung: Chị và anh Lê Văn T có hai con chung là Lê Văn B1, sinh ngày 12 tháng 7 năm 2010 và Lê Minh K, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2016. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị nuôi dưỡng. Trước khi mở phiên tòa, chị G thay đổi quan điểm, chị đề nghị Tòa án giao con chung Lê Văn B1 cho chị nuôi dưỡng, giao con chung Lê Minh K cho anh T nuôi dưỡng. Lý do chị thay đổi quan điểm là do anh T trao đổi với chị anh T yêu cầu được nuôi con Lê Minh K. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lê Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T để anh T đến Toà án nhân dân huyện An Dương giải quyết việc chị Đinh Thị Quỳnh G xin ly hôn nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã không đến Tòa án ghi bản tự khai; không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do đã vi phạm các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, xử cho chị Đinh Thị Quỳnh G được ly hôn anh Lê Văn T. giao con chung Lê Văn B1, sinh ngày 12 tháng 7 năm 2010 cho chị G nuôi dưỡng; giao con chung Lê Minh K, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2016 cho anh T nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Chị Đinh Thị Quỳnh G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Đinh Thị Quỳnh G có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Văn T. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Lê Văn T hiện đang cư trú tại thôn 2, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện An Dương tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Văn T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Quỳnh G và anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 14 tháng 3 năm 2008, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.
Tuy anh Lê Văn T không đến Tòa án, nên không có quan điểm của anh T về việc chị Đinh Thị Quỳnh G xin ly hôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Quá trình chung sống, chị Đinh Thị Quỳnh G và anh Lê Văn T đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Xét quan hệ hôn nhân của chị Đinh Thị Quỳnh G và anh Lê Văn T là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của chị Đinh Thị Quỳnh G đối với anh Lê Văn T.
Về con chung: Chị Đinh Thị Quỳnh G và anh Lê Văn T có hai con chung là Lê Văn B1, sinh ngày 12 tháng 7 năm 2010 và Lê Minh K, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2016. Chị G đề nghị Tòa án giao con chung Lê Văn B1 cho chị nuôi dưỡng, giao con chung Lê Minh K cho anh T nuôi dưỡng. Anh T không có quan điểm về việc nuôi con. Xét thấy, hiện tại chị G và anh T đều là công nhân nên khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung như nhau. Con chung Lê Văn B có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, cần giao cho chị G nuôi dưỡng con chung Lê Văn B1, giao cho anh T nuôi dưỡng con chung Lê Minh K là hợp lý, đảm bảo quyền lợi cho con chung.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Đinh Thị Quỳnh G không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Lê Văn T không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
Về tài sản chung: Chị Đinh Thị Quỳnh G không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Lê Văn T không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
Về án phí sơ thẩm: Chị Đinh Thị Quỳnh G là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị Quỳnh G và anh Lê Văn T được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 6; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Quỳnh G được ly hôn anh Lê Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung Lê Văn B1, sinh ngày 12 tháng 7 năm 2010 cho chị Đinh Thị Quỳnh G nuôi dưỡng; giao con chung Lê Minh K, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2016 cho anh Lê Văn T nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Đinh Thị Quỳnh G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn chị G đã nộp theo Biên lai thu tiền số 4637 ngày 27 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương. Chị Đinh Thị Quỳnh G đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục THA dân sự huyện An Dương; - UBND xã B; - Đương sự; - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Minh Huế |