- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà H ly hôn ông Tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc H về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST Ngày: 04-6-2020 Về việc “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Ấp X, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Văn Huỳnh Hữu Tr, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp B, xã Th, huyện V, tỉnh Long An.
Bà H có mặt, ông Tr vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn ngày 12 tháng 02 năm 2020 nguyên đơn trình bày và thể hiện trong các tài liệu chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án như sau:
Bà H và ông Tr được sự mai mối của những người thân trong gia đình và tìm hiểu nhau một thời gian thì tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tổ chức lễ cưới năm 2018 (không nhớ ngày tháng cụ thể) và vợ chồng bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện V, tỉnh Long An ngày 21/11/2018. Sau khi cưới, hai vợ chồng sinh sống tại ấp B, xã Th, huyện V, tỉnh Long An. Quá trình chung sống, vợ chồng bà bất đồng quan điểm sống nên ít chia sẽ với nhau, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Đến tháng 6 năm 2019, vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn nhiều hơn, thường xuyên gây cãi với nhau, có khi ông Tr uống rượu rồi có hành vi đánh đập bà nên bà đã về nhà cha mẹ ruột tại ấp X, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An để sinh sống cho đến nay. Từ khi bà bỏ đi, ông Tr có tìm bà nhưng tính tình ông Tr vẫn không thay đổi nên không thể về sống chung với ông Tr, nay bà cũng không còn tình cảm với ông Tr nên xin được ly hôn. Bà và ông Tr không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung.
- Bị đơn ông Tr trình bày: Do ông Tr được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản thể hiện ý kiến gửi Tòa án nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả thảo luận đánh giá chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thẩm quyền: Bà H yêu cầu ly hôn với ông Tr, ông Tr có nơi cư trú tại ấp B, xã Th, huyện V, tỉnh Long An nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về tố tụng: Ông Tr vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt ông Tr là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà H và ông Tr là hôn nhân hợp pháp được hình thành trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện V vào ngày 21/11/2018 theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp;
Bà H trình bày bà và ông Tr đã không còn sống chung từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay, hiện tại bà không còn tình cảm với ông Tr; Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử, ông Tr đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với việc yêu cầu ly hôn của bà H. Như vậy, ông Tr không có thiện chí và cũng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của bà H và ông Tr đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về nuôi con chung: Bà H và ông Tr không có con chung nên không đề cập đến.
Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Bà H trình bày không có, còn ông Tr cũng không có yêu cầu vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến, trường hợp sau này giữa các đương sự có tranh chấp thì sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu về ly hôn của bà H là có căn cứ.
Về án phí: Do bà H không thuộc trường hợp được miễn án phí nên bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc H về việc ly hôn.
Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với ông Văn Huỳnh Hữu Tr.
Về án phí: Bà Phạm Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Chuyển 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí bà Phạm Thị Ngọc H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng ngày 18 tháng 02 năm 2020 theo biên lai thu tiền số 0004719 sang tiền án phí.
Báo cho bà H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tr vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND,VKSND Tỉnh Long An; - VKSND huyện Vĩnh Hưng; - Chi cục THADS/H Vĩnh Hưng; - UBND xã Thái Bình Trung; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Liễu |