vanban.org

Bản án 10/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị La ̣i Thi ̣H và anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: giao cháu Nguyễn Hoàng N1 - sinh ngày 25/01/2017 cho chị La ̣i Thi ̣ H trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi; anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con. Các bên được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Lại Thị H - Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị La ̣i Thi ̣H và anh Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 10 - 2020
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại Xuân Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Quý và bà Lê Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thi ̣ Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: ông Vũ Đinh Tưở ng - Kiểm sát viên.

̀

Ngày 14 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

09/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Lại Thị H - sinh năm 1999, có mặt;

2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn N - sinh năm 1994, vắng mă ̣t lần thứ hai không có lý do;

Cùng nơi ĐKHKTT: thôn ĐN, xã TL (nay là tổ dân phố ĐN, thị trấn TT), huyê ̣n TL, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/4/2020 và trong quá trình xét xử , nguyên đơn - chị Lại Thị H trình bày: chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn vớ i nhau trên cơ sở tự nguyê ̣n , đăng ký kết hôn ta ̣i UBND xa Thanh Lưu (nay lã

̀ thi ̣ trấn Tân Thanh), huyê ̣n Thanh Liêm , tỉnh Hà Nam ngày 06/6/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố me ̣ anh N ở thôn ĐN, xã TL (nay là tổ dân phố ĐN, thị trấn TT). Vợ chồng chung sống hòa thuận , hạnh phúc được khoảng 07 tháng thì phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng kết hôn lúc tuổi còn trẻ , chưa chin c hắn trong suy nghi vã ̀ cách cư xử , bất đồng quan

́ điểm trong cuô ̣c sống; hơn nữa, anh chi ̣ đều không có công viê ̣c ổn đi ̣nh , anh N mải chơi không chịu khó làm ăn , con bi ̣ bê ̣nh ba ̣i nao , chị phải ở nhà chăm con ,̃ nên kinh tế vợ chồ ng khó khăn. Chính vì những lý do nêu trên, vợ chồng thườ ng xuyên xảy ra tinh tra ̣ng cai chữ

̉ i nhau, cuô ̣c sống vợ chồng không còn ha ̣nh phúc

̀ như thờ i gian mớ i kết hôn . Anh N sống không có trách nhiê ̣m vớ i vợ con , mô ̣t mình chị chăm con bi ̣ bê ̣nh ba ̣i nao vẫ

́t vả , nên chi ̣ cho con về nhà bố me ̣ đẻ ở xa ̃ Liêm Túc từ tháng 8 năm 2018 để bố mẹ chăm sóc cháu cùng chị . Từ đó vợ chồng sống ly thân , không còn quan tâm đến nhau và chấm dứ t quan hê ̣ tinh

̀ cảm. Mâu thuẫn của vợ chồng đa đượ̃

c hai bên gia đinh đô ̣ng viên khuyên bảo

̀ về đoàn tu ̣, chính quyền đoàn thể xã Thanh Lưu (nay là thi ̣ trấn Tân Thanh) tiến hành hoà giải, song anh N vắng mă ̣t , nên hoà giải không thành. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, việc đoàn tụ là không thể; nên đề nghi ̣ Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

- Về con: vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hoàng N1 - sinh ngày 25/01/2017, hiện cháu N1 đang sống cùng vớ i chi ̣. Khi ly hôn , chị có nguyện vọng được nuôi cháu N1, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con . Về con nuôi, con riêng: không có, hiê ̣n nay chi ̣ không mang thai, nên chi ̣ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản: vợ chồng không có tài sản chung gì, nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Về công nợ: vợ chồng không nợ cá nhân, tập thể, nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Về công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Về phía bị đơn - anh Nguyễn Văn N: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh N biết và nhiều lần triệu tập, thông báo cho anh N đến Tòa án để viết bản tự khai, tham gia các buổi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh N đều vắng mặt không có lý do . Mặc dù Tòa án đã cử cán bộ và nhờ chính quyền thi ̣ trấn Tân Thanh đến gia đình anh Ngọc để tống đạt các văn bản, nhưng anh N vẫn không đến Tòa án làm việc. Vì vậy, Tòa án không thể yêu cầu anh N làm bản tự khai hoặc tiến hành lấy lời khai đối với anh N và tiến hành hòa giải giữa các đương sự được; đồng thời Tòa án đã phải niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

* Xác minh tại chính quyền địa phương xác định: chị Lại Thị H và anh Nguyễn Văn N kết hôn vớ i nhau trên cơ sở tự nguyê ̣n , đăng ký kết hôn ta ̣i UBND xã Thanh Lưu (nay là thi ̣ trấn Tân Thanh ), huyê ̣n Thanh Liêm , tỉnh Hà N1 ngày 06/6/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chi ̣ sống ở thôn ĐN, xã TL (nay là tổ dân phố ĐN, thị trấn TT). Anh chi ̣ chung sống hòa thuâ ̣n , hạnh phúc được khoảng thờ i gian ngắn thi phát sinh mâu thuẫ n. Nguyên nhân chủ yếu do

̀ anh chi ̣ kết hôn lúc tuổi còn trẻ , chưa chin chắn trong suy nghi và cách cư xử ,

́

̃ hơn nữa anh chi ̣ đều không có công viê ̣c ổn đi ̣nh , anh N mải chơi không chịu khó làm ăn , nên vợ chồng thườ ng xuyên xảy r a tinh tra ̣ng cai chữ

̉ i nhau , cuô ̣c

̀ sống vợ chồng không có ha ̣nh phúc . Anh chị sống ly thân từ tháng 8 năm 2018 đến nay, không còn quan tâm đến nhau và chấm dứ t mo ̣i quan hê ̣ tinh cảm . Năm

̀ 2019, chị H có làm đơn xin ly hôn anh N; chính quyền, đoàn thể xã Thanh Lưu (nay là thi ̣ trấn TT) đa thông bã

́o 03 lần để anh chi ̣ đến hòa giải , song anh N vắng mă ̣t (cán bộ tư pháp đã gọi điện thoại trao đổi với anh N, qua điê ̣n thoa ̣i anh N trình bày anh không về làm việc và không muốn ly hôn vì anh N là người công giáo), nên hoà giải không thành. Anh N biết rõ chi ̣ H đa lã ̀m đơn ly hôn , nhưng anh N cố tinh không đến để giải quyết ly hôn. Hiê ̣n nay anh N có hộ khẩu

̀ thườ ng trú ở tổ dân phố ĐN, thị trấn TT, bản thân anh N thườ ng xuyên không có mă ̣t ta ̣i đi ̣a phương , thi thoảng anh N có về nhà một vài ngày sau lại đi , không làm thủ tục tạm vắng ở địa phương. Anh N đi đâu, làm gì địa phương không xác đi ̣nh được. Nay, chị H có đơn xin ly hôn với anh N, quan điểm của chinh quyền,

́ đoàn thể thi ̣ trấn Tân Thanh như sau: đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn của anh chi ̣ theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣.t

* Tại phiên tòa,

- Chị H giữ nguyên quan điểm về việc xin ly hôn với anh N và đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng N1, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, các điều 147, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội - xử cho ly hôn giữa chị La ̣i Thi ̣ H và anh Nguyễn Văn N. Về con chung: giao cháu Nguyễn Hoàng N1 - sinh ngày 25/01/2017 cho chị La ̣i Thi ̣ H nuôi dưỡng, cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi; anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí ly hôn sơ thẩm, chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị Lại Thị H có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn là anh Nguyễn Văn N hiện cư trú tại thị trấn TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm.

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do; theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hê ̣ hôn nhân : hôn nhân giữa chị La ̣i Thi ̣ H và anh Nguyễn Văn N là tự nguyện, hợp pháp. Do anh chi ̣ kết hôn lúc tuổi cò n trẻ , chưa chin

́ chắn trong suy nghi và cách cư xử , hơn nữa anh chi ̣ đều không có công viê ̣c ổn

̃ đi ̣nh, anh N mải chơi không chịu khó làm ăn , con chung của anh chi ̣ bi ̣ bê ̣nh ba ̣i não, chị Hường ở nhà chăm con mà không đi làm , nên kinh tế vợ chồng khó khăn. Từ những lý do trên, vợ chồng anh chi ̣ thườ ng xuyên xảy ra tinh tra ̣ng caĩ

̀ chử i nhau, cuô ̣c sống vợ chồng không có ha ̣nh phúc . Từ tháng 8 năm 2018 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân , không còn quan tâm đến nhau . Mâu thuẫn giữa anh chị đã được gia đình khuyên giải , chính quyền địa phương xã Thanh Lưu (nay là thi ̣ trấn Tân Thanh ) tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, song anh N đều vắng mặt không có lý do. Về phía chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết xin ly hôn với anh N. Hội đồng xét xử thấy : mâu thuẫn vợ chồng giữa chị La ̣i Thi ̣ H và anh Nguyễn Văn N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị H xin ly hôn anh N là có căn cứ, phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: chị La ̣i Thi ̣ H và anh Nguyễn Văn N có 01 con chung là Nguyễn Hoàng N1 - sinh ngày 25/01/2017. Cháu N1 hiện đang sống ổn định cùng chị H và đang còn nhỏ , nên rất cần sự chăm sóc của ngườ i me ̣. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu N1, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: do chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: chị La ̣i Thi ̣ H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí : chị La ̣i Thi ̣ H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147, các điều 227, 228, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị La ̣i Thi ̣H và anh Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: giao cháu Nguyễn Hoàng N1 - sinh ngày 25/01/2017 cho chị La ̣i Thi ̣ H trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi; anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con. Các bên được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm : chị La ̣i Thi ̣ H phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chi ̣ Hường đa nô ̣̃ p ta ̣i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Thanh Liêm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004930 ngày 28/4/2020.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ