vanban.org

Bản án 10/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử: Cho ly hôn giữa anh Đào Văn Bình và chị Lê Thị Phượng. Về nuôi con chung: Giao cho anh Đào Văn Bình trực tiếp nuôi dưỡng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Văn Bình - Lê Thị Phượng"
  • Tòa quyết gì? nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/HNGĐ -ST
Ngày 15/6/2020.
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH – TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

2. Bà Nguyễn Thị Lâm.

- Thư ký Phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Lan Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 15/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú

Thọ, Tòa án mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 25/2020/ TLST-HNGĐ ngày 19/2/2020 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2020/QĐXX-ST ngày 13/5/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2020/QĐST - HNGĐ giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Đào Văn Bình, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Khu 3, xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Hôm nay, có mặt.

Bị đơn: Chị Lê Thị Phƣợng, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Khu 3, xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Hôm nay, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 21/10/2019, Bản tự khai và tại phiên tòa hôm

nay anh Đào Văn Bình trình bày: Anh và chị Lê Thị Phượng đăng ký kết hôn tự nguyện có tìm hiểu ngày 13/9/2013 tại UBND xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn hai vợ chồng anh được mẹ anh cho hai vợ chồng dựng căn nhà cấp 4 ba gian để ở trên diện tích đất của mẹ anh. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến khoảng tháng 02/2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên thưởng xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Hiện nay mặc dù hai vợ chồng vẫn đang sống cùng nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau, không còn quan hệ về mặt tình cảm. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Lê Thị Phượng theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Đào Tú Chinh, sinh

ngày 24/7/2015 và cháu Đào Thị Huyền, sinh ngày 30/7/2017. Hiện nay cả hai cháu đều ở với anh tại khu 3 xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Khi ly hôn anh xin được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị Phượng

phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, công sức đóng góp: Không có.

* Về phía chị Lê Thị Phượng mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản

tố tụng để chị Phượng biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng chị Phượng đều vắng mặt nên không có lời khai và không có quan điểm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Đào Văn Bình có yêu cầu xin ly hôn với chị Lê Thị Phượng và đề

nghị giải quyết về con chung nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 điều 35 BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bình và chị Phượng kết hôn với nhau

trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo anh Bình trình bày thì vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xảy rả cãi chửi nhau. Hiện nay mặc dù vợ chồng không sống ly thân và vẫn đang ở chung nhà nhưng không còn quan tâm gì đến nhau, không còn quan hệ về mặt tình cảm. Về phía chị Phượng mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và gửi các văn bản tố tụng cho chị Phượng để chị Phượng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng chị Phượng không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại Biên bản xác minh của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án đã

được chính quyền địa phương cung cấp: UBND xã có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho chị Phượng để triệu tập chị Phượng đến Tòa án làm việc liên quan đến việc anh Bình xin ly hôn. UBND xã cũng đã cử cán bộ đến nhà giao cho chị Phượng các văn bản trên nhưng do chị Phượng đi làm, không có mặt ở nhà (tối mới có mặt tại nhà) nên không thực hiện được tống đạt. Do không tống đạt được cho chị Phượng các văn bản tố tụng nên Toµ ¸n ®· tiÕn hµnh niªm yÕt c¸c v¨n b¶n này theo quy định của pháp luật. Mặt khác, hiện nay chị Phượng và anh Bình vẫn đang ở chung nhà nên chị Phượng hoàn toàn có thể biết được việc anh Bình làm đơn xin ly hôn, nhưng chị Phượng vẫn cố tình vắng mặt nên được coi là mặc nhiên từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Tại phiên tòa hôm nay anh Bình vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly

hôn với chị Phượng vì tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau và không còn quan hệ về mặt tình cảm. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Bình và chị Phượng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xử cho anh Bình được ly hôn với chị Phượng là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Bình xác nhận vợ

chồng có hai con chung là: cháu Đào Tú Chinh, sinh ngày 24/7/2015 và cháu Đào Thị Huyền, sinh ngày 30/7/2017. Khi ly hôn anh xin được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị Phượng phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án chị Phượng không có mặt nên không có lời khai do đó cũng không thể hiện được quan điểm về con chung. Xét thấy nguyện vọng xin được nuôi con của anh Bình là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với pháp luật. Hơn nữa, mặc dù hiện nay anh chị đang ở cùng nhà nhưng theo anh Bình trình bày thì toàn bộ việc chăm sóc các con, chi phí sinh hoạt và học tập của các cháu đều do anh lo liệu, chị Phượng không có trách nhiệm gì. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của các cháu được tốt nhất cần giao cho anh Bình trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu và chị Phượng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Bình là phù hợp với quy định tại khoản 3 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Anh Đào Văn Bình không đề nghị giải quyết về tài

sản chung. Nếu sau này, chị Phượng đề nghị giải quyết về tài sản chung và có căn cứ thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung, công sức: Anh Bình xác nhận anh chị không có nợ

chung và không có công sức gì. Nếu sau này, chị Phượng đề nghị giải quyết về nợ chung và công sức và có căn cứ thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Tại phiên tòa hôm nay mặc dù chị Phượng đã được Tòa án triệu tập

hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặtnên căn cứ khoản 2 điều 227 và khoản 1 điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt đối với chị Phượng.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS nhân dân huyện Phù Ninh có

quan điểm: Vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Đề nghị HĐXX xử cho anh Đào Văn Bình và chị Lê Thị Phượng được

ly hôn.

- Về con chung: Đề nghị giao cháu Đào Tú Chinh, sinh ngày 24/7/2015 và

cháu Đào Thị Huyền, sinh ngày 30/7/2017 cho anh Đào Văn Bình trực tiếp nuôi dưỡng, chị Phượng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Bình do anh Bình không có yêu cầu.

- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do anh Bình không yêu cầu.

- Về nợ chung và công sức: Không có nên không xem xét giải quyết

Về án phí: Anh Bình phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 81, 82, 83 luật hôn

nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử: Cho ly hôn giữa anh Đào Văn Bình và chị Lê Thị Phượng.

- Về nuôi con chung: Giao cho anh Đào Văn Bình trực tiếp nuôi dưỡng

hai con chung là: Đào Tú Chinh, sinh ngày 24/7/2015 và Đào Thị Huyền, sinh ngày 30/7/2017.

Chị Lê Thị Phượng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Bình

do anh không yêu cầu.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc chăm sóc, giáo dục

con chung không bên nào được ngăn cấm.

- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung, công sức đóng góp: Không có.

- Về án phí: Anh Đào Văn Bình phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2018/0002265 ngày 02/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Anh Bình đã nộp đủ tền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Bình có mặt được quyền

kháng cáo. Chị Lê Thị Phượng vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ