vanban.org

Bản án 10/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không C nhận anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị O là vợ chồng.

Ghi nhận thỏa thuận của các đương sự về việc giao cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con tên là Vũ Nguyễn Như K, sinh ngày 04/10/2011 và Vũ Thị Trúc L, sinh ngày 29/6/2013. Chị Vũ Thị O không phải cấp dưỡng nuôi con Quyền thăm nom con, quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, quyền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Công - Vũ Thị Oanh"
  • Tòa quyết gì? Không C nhận anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị O là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST
Ngày 07 - 5 - 2020
“V/v không C nhận là vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Sỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Phúc, bà Lê Thị Chung.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện VKSND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm C khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 37/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020, về việc không C nhận là vợ chồng. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 04 tháng 03 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C; sinh năm 1982; Nơi ĐKNKTT: Số nhà A, Ấp M, xã Đ, huyện G, Thành phố H; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện D, tỉnh L. Có mặt.

Bị đơn: Chị Vũ Thị O; sinh năm: 1982; địa chỉ: Số nhàc, thôn B, xã T, huyện D, tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng của nguyên đơn anh Nguyễn Văn C có nội dung: Anh C và chị O chung sống như vợ chồng từ năm 2008 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống có hai con chung là Vũ Nguyễn Như K, sinh ngày 04/10/2011 và Vũ Thị Trúc L, sinh ngày 29/6/2013. Do mâu thuẫn trầm trọng và đã ly thân từ năm 2018 nên anh C khởi

- 1 -

kiện yêu cầu được ly hôn với chị O, giao cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và anh C sẽ cấp dưỡng nuôi con mức 2.500.000 đồng/tháng, cấp dưỡng hàng tháng kể từ tháng 5 năm 2020 đến khi con tròn 18 tuổi. Do anh C và chị O không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn chị Vũ Thị O thừa nhận chung sống với anh C như vợ chồng từ năm 2008, có hai con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung như anh C trình bày là đúng. Nay chị O đồng ý ly hôn, yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con mức 2.500.000 đồng/tháng, cấp dưỡng hàng tháng kể từ tháng 5 năm 2020 đến khi con tròn 18 tuổi như anh C trình bày.

Tại bản tự khai ngày 20/02/2020, cháu Vũ Nguyễn Như K có nguyện vọng được chị O trực tiếp nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa, anh C giao nộp bản tự khai ghi ngày 07/5/2020 của cháu Vũ Nguyễn Như K, nội dung trình bày nguyện vọng được anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời, tại phiên tòa chị O và anh C thỏa thuận về việc giao hai con cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận anh C và chị O là vợ chồng, giao cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Vũ Nguyễn Như K và Vũ Thị Trúc L, chị O không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được thẩm tra tại phiên Tòa, ý kiến của các đương sự, của đại diện Viện kiểm sát và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Anh C và chị O chung sống từ năm 2008 và coi nhau như vợ chồng. Quá trình chung sống có 02 người con chung nhưng từ đó đến nay anh C và chị O không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay anh C và chị O phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và yêu cầu ly hôn. Cần căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình không C nhận anh C và chị O là vợ chồng.

Anh C và chị O cùng thừa nhận có hai con chung tên là Vũ Nguyễn Như K, sinh ngày 04/10/2011 và Vũ Thị Trúc L, sinh ngày 29/6/2013. Tại phiên tòa, anh C và chị O thỏa thuận giao hai con cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thỏa thuận của các đương sự phù hợp với nguyện vọng của con, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Cần áp dụng Điều

- 2 -

15, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình để ghi nhận thỏa thuận của các đương sự là phù hợp.

Anh C và chị O cùng xác định hai người không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết về tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản.

Về án phí: Anh C phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 144, 147, 235, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14 và các Điều 15, 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không C nhận anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị O là vợ chồng.

2. Ghi nhận thỏa thuận của các đương sự về việc giao cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con tên là Vũ Nguyễn Như K, sinh ngày 04/10/2011 và Vũ Thị Trúc L, sinh ngày 29/6/2013. Chị Vũ Thị O không phải cấp dưỡng nuôi con

Quyền thăm nom con, quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, quyền yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0014657, ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh (đã nộp đủ).

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

5. Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- 3 -

Cỡ chữ