vanban.org

Bản án 10/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị L ly hôn với ông Trần Như T.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung là cháu tên Trần Thị Kim N, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2010 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L- Trần Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị L ly hôn với ông Trần Như T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/HNGĐ-ST
Ngày 5- 6-2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hùng

Ông Trần Văn Trọng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tùng Lâm- Kiểm sát viên.

Ngày 5 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ L số: 05/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp yêu cầu ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L- sinh năm: 1991

Địa chỉ: Tổ 8 ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Có mặt).

Bị đơn: Ông Trần Như T - sinh năm: 1991

Địa chỉ: 4Ô4/18 khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 12 năm 2019 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày:

Nguyên vào năm 2009, bà Nguyễn Thị L và ông Trần Như T tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu theo giấy chứng nhận kết hôn số 201 ngày 19-7-2012.

Vợ chồng bà T chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, bất đồng trong quan điểm sống, cuộc sống chung với gia đình xảy ra nhiều va chạm. Từ đó, hai bên thường cãi nhau, không còn tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng đi vào bế tắc không lối thoát, không mang lại hạnh phúc cho nhau. Do vậy, khi mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau thì hai bên phải ly thân từ tháng 7 năm 2018 đến nay.

Trong thời gian ly thân, bà L sống ở Lộc An, ông T sống ở Phước Hải hai bên mạnh ai nấy sống, không ai quan T đến ai, không gặp nhau để bàn chuyện hàn gắn. Nay, bà L xác định vợ chồng không thể quay về đoàn tụ, không còn tình cảm với nhau nữa nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Kim N, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2010. Từ khi ly thân đến nay, cháu N sống trực tiếp với bà L. Nay, bà L yêu cầu tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L xác định hai vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Trần Như T: Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng ông T đều vắng mặt không có L do.

Tòa án đã xác minh chính quyền địa phương về địa chỉ nơi cư trú thể hiện ông T có đăng ký nhân khẩu thường trú và đang sinh sống trực tiếp tại địa chỉ bà L cung cấp nhưng thường đi làm vắng nhà trong giờ hành chính nên không lấy được ý kiến. Về mâu thuẫn vợ chồng thì địa phương không rõ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ L, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Tuy nhiên, còn vi phạm là chỉ xác minh tình trạng hôn nhân tại nơi cư trú của ông T, không xác minh tại nơi vợ chồng bà L trước khi ly thân sinh sống nên cần rút kinh nghiệm. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn triệu tập nhiều lần không đến là vi phạm nghĩa vụ nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Trần Như T hiện nay có nơi đăng ký thường trú và sinh sống tại huyện Đất Đỏ nên căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Bị đơn ông Trần Như T đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Về nội dung:

Về yêu cầu ly hôn:

Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Trần Như T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo giấy chứng nhận kết hôn số 201/2012 quyển 01/2012 ngày 19 tháng 7 năm 2012. Do vậy, theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đủ cơ sở xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà L xác định vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, bất đồng trong quan điểm sống. Vì vậy, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên phải ly thân từ tháng 7 năm 2018 đến nay. Nay, bà L xác định không thể quay về đoàn tụ, không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu ly hôn.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông T nhiều lần đến hòa giải và tham gia phiên tòa nhằm tạo điều kiện để vợ chồng quay về đoàn tụ nhưng ông T đã không có mặt, bỏ mặc bà L muốn làm gì thì làm điều đó thể hiện ông T không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân của mình. Xét cuộc sống chung vợ chồng là do vợ và chồng quyết định không ai can thiệp. Khi một bên không còn tình cảm gắn bó, không thể chung sống thuận hòa thì ly hôn là biện pháp tốt nhất để tránh cả hai bị tổn thương.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó nên căn cứ khoản 01 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.

Về con chung: Bà L xác định vợ chồng có 01 người con chung là Trần Thị Kim N, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2010 và có yêu cầu trực tiếp nuôi cháu. Xét thấy, cháu N là gái, còn nhỏ, qua lấy ý kiến thì cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ đồng thời từ khi ly thân đến nay cháu đã sống trực tiếp với bà L. Vì vậy, nhằm đảm bảo quyền lợi, tránh những xáo trộn về đời sống vật chất và tinh thần cho con chung nên giao cháu Nguyên cho bà L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Bà L không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L xác định không có, không yêu cầu; ông T cũng không có ý kiến hoặc yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Trần Như T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường Vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị L ly hôn với ông Trần Như T.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung là cháu tên Trần Thị Kim N, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2010 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu, không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, bà L và ông T đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

- Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số TU/2019/0000986 ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.

- Ông Trần Như T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ