- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Caên cöù vaøo caùc ñieàu 357, 463, 466, 468 vaø 470 cuûa Boä luaät daân söï năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K-TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/DS-ST. Ngày: 16/6/2020. “V/v: Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH G
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vi Thị Tỵ.
2. Ông Phan Đình Toàn.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân (TAND) huyện K, tỉnh G.
Ngày 16/6/2020, tại trụ sở TAND huyện K, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 08/2020/TLST-DS ngày 08/5/2020 về việc: “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐST-DS ngày 08/5/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Thôn 2, xã S, huyện K, tỉnh G.
- Bị đơn: Bà Mai Thị V, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Thôn 3, xã S, huyện K, tỉnh G.
Bà T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bà V lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị T thì do quen biết nên vào ngày 20/8/2017 (âm lich), bà có cho bà Mai Thị V vay số tiền là 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) để lo công việc gia đình; bà V đã viết và ký giấy mượn tiền, cam kết đến ngày 20/12/2017 (âm lịch) sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền nợ nói trên, giấy mượn tiền được giao lại cho bà giữ và bà đã nộp cho Tòa án làm chứng cứ.
Tuy nhiên, kể từ khi vay tiền cho đến nay, mặc dù đã quá thời hạn trả nợ và bà đã nhiều lần trực tiếp gặp đòi nhưng bà V vẫn không chịu trả nợ. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu bà V phải trả ngay cho bà số tiền nợ gốc là 25.000.000 đồng.
Đối với bị đơn bà Mai Thị V: Sau khi thụ lý vụ án, TAND huyện K, tỉnh G đã triệu tập bà đến Tòa án làm việc để nhận Thông báo thụ lý vụ án, làm Bản tự khai trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải do Toà án tổ chức nhưng bà V không chấp hành có mặt làm việc.
Do vụ án không tiến hành công khai chứng cứ và hoà giải được vì bà V vắng mặt nên Toà án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa lần thứ nhất mở vào ngày 26/5/2020 và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù Toà án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng bà V luôn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Giấy CMND mang tên Nguyễn Thị T (bản photo), 01 Sổ hộ khẩu đứng tên chủ hộ Nguyễn Thị T (bản photo), 01 Giấy nhận nợ ghi nội dung ngày 20/8/2017 âm lịch bà bà Mai Thị V có nợ bà Nguyễn Thị T số tiền 25.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/12/2017 âm lịch sẽ trả đủ số tiền nợ trên, được viết trên giấy kẻ ô ly, cuối giấy có chữ người nợ Mai Thị V (bản chính).
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; có địa chỉ tại: Thôn 2, xã S, huyện K, tỉnh G; điều này được thể hiện qua chứng cứ do bà T giao nộp là Sổ hộ khẩu gia đình đứng tên chủ hộ Nguyễn Thị T (bản photo) và Giấy CMND mang tên Nguyễn Thị T (bản photo).
Bà Mai Thị V, sinh năm 1972, có địa chỉ tại: Thôn 3, xã S, huyện K, tỉnh G; điều này được thể hiện qua chứng cứ do bà T giao nộp là Đơn xin xác nhận ngày 08/6/2020 (bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng dân sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Mai Thị V phải trả cho bà số tiền nợ gốc là 25.000.000 đồng. Bà T là chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm nên được quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện của nguyên đơn được đảm bảo nên được xem xét và thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện K, tỉnh G theo như quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về nội dung giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, HĐXX thấy rằng: Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Giấy mượn tiền đề ngày 20/8/2017 (âm lịch) có nội dung bà Mai Thị V nhận nợ bà T với số tiền là 25.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/12/2017 (âm lịch) sẽ trả đủ số tiền nợ trên, phía dưới có chữ người nợ và ghi rõ họ tên Mai Thị V. Xét các chứng cứ do bà T đưa ra để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật, thể hiện rõ việc bà V có vay của bà T số tiền là 25.000.000 đồng. Trong giấy mượn tiền, bà V hẹn đến ngày 20/12/2017 (âm lịch) sẽ trả đủ số tiền nợ trên nhưng đến nay bà vẫn chưa trả cho bà T là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, bà V luôn vắng mặt khi Tòa án triệu tập làm việc, không chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tự chối bỏ quyền tham gia tố tụng của mình, điều này đã thể hiện rõ việc bà có vay nợ của bà T nên bà phải có nghĩa vụ trả nợ.
Từ những phân tích như trên, xét yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ và đúng pháp luật nên được HĐXX chấp nhận, buộc bà V phải trả cho bà T số tiền nợ gốc là 25.000.000 đồng.
. Về án phí: Do yêu cầu của bà T được chấp nhận toàn bộ nên bà không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST), hoàn trả cho bà số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 25.000.000 đồng x 5% = 1.250.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 91, 93, 94, 95, 108, 144, 147, 227, 228, 238 và 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Caên cöù vaøo caùc ñieàu 357, 463, 466, 468 vaø 470 cuûa Boä luaät daân söï năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, buộc bị đơn bà Mai Thị V phải trả cho bà T số tiền nợ gốc là 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bà V thi hành xong khoản tiền nợ nói trên thì hàng tháng bà V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí DSST: Buộc bà Mai Thị V phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.250.000 đồng.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 625.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Toà án số: 0003284 ngày 16/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh G.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, hai đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu TAND tỉnh G xét xử phúc thẩm ./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh G; -VKSND huyện K; -THADS huyện K; -Các đương sự; - Lưu HSVA, VPTA. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Nguyên |