vanban.org

Bản án 10/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Tuyên án 30/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 28/5/2019 là: 84.962.502 đồng (T m mươi bốn triệu chín trăm s u mươi hai ngh n năm trăm ẻ hai đồng) Trong đó: Tiền nợ gốc là 70.000.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NHNN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Các tổ chức tín dụng
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2020/DS-ST
Ngày 30 tháng 12 năm 2020
“V/v Tranh chấp hợp
đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Dƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Yun và ông Đoàn Nhƣ kiên.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2020/TLST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2020, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Địa chỉ: 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trọng T.

Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai.

Địa chỉ: Tổ 8, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc P - Sinh năm: 1981

Bà Đồng Thị Minh T – Sinh năm: 1984

Cùng địa chỉ: Làng T, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2020 ời khai trong qu tr nh giải quyết vụ n và t i phiên t a thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Ngày 10 tháng 12 năm 2016 vợ chồng ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T có ký kết hợp đồng tín dụng số: 19169121/HĐTD với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai để vay số tiền 150,000,000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn hạn mức tín dụng 36 tháng kể từ ngày 10/12/2016 đến ngày 09/12/2019, thời hạn vay là 24 tháng kể từ ngày 09/12/2017 đến ngày 08/12/2019, mục đích vay để trồng mới và chăm sóc tiêu, lãi suất tại thời điểm vay 10.5%/năm, lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.

Ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T đã nhận hết tiền vay vào ngày 09/12/2017. Thời hạn vay 24 tháng hạn trả nợ gốc: 2 kỳ. Kỳ1: Vào ngày 08/12/2018, số tiền gốc: 50.000.000 đồng. Kỳ 2: Vào ngày 08/12/2019, số tiền gốc: 100.000.000 đồng. Kỳ hạn lãi: 08 kỳ, 03 tháng một lần vào ngày 07 của tháng thứ 3 kế tiếp. Hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay có cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản là:

+ Đất trồng cây lâu năm tại Làng Toăk, xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AK 597532 do UBND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp ngày 31/12/2008. Thửa đất số: 02; tờ bản đồ số: 41; diện tích: 9.776m2, trên đất có 600 trụ tiêu. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 19169121/HĐTC ngày 09/12/2016 đã được Ủy ban nhân dân xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai chứng nhận thế chấp ngày 09/12/2016, hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 09/12/2018 khoản vay trên đến hạn trả nợ gốc, Ngân hàng đã nhiều lần mời ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T đến làm việc, đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Do ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 30/12/2020 là: 194,019,792 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 150,000,000 đồng; tiền nợ lãi là: 59,998,542 đồng, nhưng ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T đã trả 15,968,750 đồng tiền lãi, số tiền lãi còn phải trả là: 44,019,792 đồng (Trong đó lãi trong hạn là: 26,629,167 đồng + 33,359,375 đồng lãi quá hạn - 15,968,750 đồng tiền lãi đã trả = 44,019,792 đồng). Tổng số tiền phải trả là: 194,019,792 đồng. Ngoài ra, Ngân hàng còn yêu cầu ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải trả tiền lãi phát sinh đến ngày tất toán khoản vay tại Ngân hàng.

2. Trường hợp ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T không trả được nợ hoặc không trả đủ số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp của ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 19169121/HĐTC ngày 09/12/2016 là thửa đất:

Đất trồng cây lâu năm tại Làng Toăk, xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AK 597532 do UBND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp ngày 31/12/2008. Thửa đất số: 02; tờ bản đồ số: 41; diện tích: 9.776m2, trên đất có 600 trụ tiêu.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông bà đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Qua xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cho biết bị đơn ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T có hộ khẩu thường trú tại Làng T, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai nhưng hiện nay không sống ổn định tại nơi cư trú, không xác định được hiện đang ở đâu và thời điểm trở về cụ thể. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để ông bà đến tham gia phiên tòa nhưng ông Nguyễn Ngọc Ph, bà Đồng Thị Minh T tiếp tục vắng mặt. Do vậy, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để Hội đồng xét xử xem xét.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang có ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ ngày thụ lý cho đến thời điểm xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc là: 150,000,000 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 30/12/2020 là: 44,019,792 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là: 194,019,792 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/12/2020) cho đến khi thi hành xong các khoản nợ trên, ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 19169121/HĐTD ngày 10/12/2016. Nếu bị đơn ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T không trả được nợ hoặc không trả đủ số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với tiền thẩm định: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 5,000,000 đồng (Năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã tạm ứng và chi phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu c c tài iệu có trong hồ sơ vụ n được thẩm tra t i phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh uận t i phiên t a Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 17/3/2020, nguyên đơn là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T thanh toán số tiền nợ gốc là gốc là: 150,000,000 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 30/12/2020 là 44,019,792 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là: 194,019,792 đồng. Xét hình thức, nội dung đơn khởi kiện là đúng theo quy định của pháp luật. Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo kết quả xác minh của Tòa án tại Công an xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai, bị đơn là ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T có địa chỉ nơi cư trú đúng với địa chỉ mà nguyên đơn đã ghi trong đơn khởi kiện và đúng với địa chỉ ghi trong hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã niêm yết về việc thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và niêm yết những văn bản tố tụng để tiến hành giải quyết theo thủ tục chung. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng có vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải cùng có nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 19169121/HĐTD ngày 10/12/2016. Xét hình thức và nội dung của Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận là phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Bị đơn không có ý kiến phản đối nên có căn cứ xác định hợp đồng tín dụng này là có thật.

[3] Xét nội dung Hợp đồng tín dụng số: 19169121/HĐTD ngày 10/12/2016; số tiền vay là 150,000,000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) ngày giải ngân là ngày 09/12/2017, lãi suất trong hạn 10.5%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 15.75%/năm. Thời hạn hạn mức tín dụng 36 tháng kể từ ngày 10/12/2016 đến ngày 09/12/2019, thời hạn vay là 24 tháng kể từ ngày 09/12/2017 đến ngày 08/12//2019. Thời hạn trả nợ gốc: 2 kỳ. Kỳ 1: Vào ngày 08/12/2018, số tiền gốc: 50.000.000 đồng. Kỳ 2: Vào ngày 08/12/2019, số tiền gốc: 100.000.000 đồng. Kỳ hạn lãi: 08 kỳ, 03 tháng một lần vào ngày 07 của tháng thứ 3 kế tiếp.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T chỉ trả được 15,968,750 đồng tiền lãi. Ngày 26/12/2018 là đến kỳ hạn tiếp tục trả lãi của khoản vay nhưng ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T không nộp trả lãi theo kỳ hạn. Đến kỳ trả nợ gốc, ông bà vẫn không trả nợ.

Ngày 09/12/2018 Ngân hàng chuyển số tiền gốc 50,000,000 đồng sang nợ quá hạng và ngày 09/12/2019 Ngân hàng chuyển số tiền gốc 100,000,000 đồng sang nợ quá hạng là đúng quy định. Tổng tiền nợ lãi là: 59,998,542 đồng, nhưng ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T đã trả 15,968,750 đồng, số tiền lãi còn phải trả là: 44,019,792 đồng (Trong đó lãi trong hạn là: 26,629,167 đồng + 23,359,375 đồng lãi quá hạn - 15,968,750 đồng tiền lãi đã trả = 44,019,792 đồng). Tổng số tiền gốc và lãi phải trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/12/2020) là: 150,000,000 đồng + 44,019,792 đồng = 194,019,792 đồng. Như vậy, Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải trả số tiền nợ 194,019,792 đồng (Một trăm chín mươi bốn triệu không trăm mười chín ngh n bảy trăm chín mươi hai đồng) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Việc tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Cụ thể, vì các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nên nếu ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (30/12/2020) cho đến khi thi hành án xong ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

[5] Xét yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp giữa các bên đã kí kết: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 19169121/HĐTC ngày 10/12/2016 giữa ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T và Ngân hàng là hợp pháp, nội dung thỏa thuận phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự. Bên thế chấp dùng tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản nợ gốc, lãi và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác. Theo quy định tại khoản 6 Điều 320 và khoản 1 Điều 299 của Bộ luật dân sự thì trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên thế chấp phải giao tài sản thế chấp để xử lý. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn là người có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cụ thể, bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho Ngân hàng (194,019,792 đồng) là: 9,700,989 đồng (Chín triệu bảy trăm ngh n chín trăm t m mươi chín đồng) và trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 5,000,000 đồng (Năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã tạm ứng, chi phí.

Trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 4,377,000 đồng.

V c c ẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147;khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158 điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016 UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Áp dụng Điều 280; khoản 1 Điều 299; Điều 317; Điều 318; khoản 6 Điều 320; Điều 465; Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 90; Điều 91; Điều 94; Điều 95, Điều 98 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2018; Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

1. Buộc ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 30/12/2020 là:194,019,792 đồng (Một trăm chín mươi bốn triệu không trăm mười chín ngh n bảy trăm chín mươi hai đồng). Trong đó: Tiền nợ gốc là: 150,000,000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và tiền nợ lãi là: 44,019,792 đồng (Bốn mươi bốn triệu không trăm mười chín ngh n bảy trăm chín mươi hai đồng), theo hợp đồng tín dụng số: 19169121/HĐTD ngày 10/12/2016.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/12/2020) cho đến khi thi hành xong các khoản nợ trên, ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 19169121/HĐTD ngày 10/12/2016. .

2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo nội dung các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 19169121/HĐTC ngày 09/12/2016.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai 5,000,000 đồng (Năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã tạm ứng, chi phí.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Ngọc P, bà Đồng Thị Minh T phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 9,700,989 đồng (Chín triệu bảy trăm ngh n chín trăm t m mươi chín đồng).

Trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 4,377,000 đồng (Bốn triệu ba trăm bảy mươi bảy ngh n đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0008419 ngày 27 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/12/2020), các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản n được thi hành theo quy định t i điều 2 Luật thi hành n dân sự th người được thi hành n dân sự người phải thi hành n dân sự có quyền thoả thuận thi hành n quyền yêu cầu thi hành n tự nguyện thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định t i c c Điều 6; 7; 7a và 9 Luật thi hành n dân sự; Thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định t i điều 30 Luật thi hành n dân sự.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Gia Lai;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Mang Yang;

- Các đương sự;

- THADS huyện Mang Yang;

- Lưu HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN MANG YANG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI

Mang Yang, ngày 12 tháng 12 năm 2019

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 12 tháng 12 năm 2019.

Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Dƣơng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Nhƣ kiên.

2. Ông Ngô Thanh Hà.

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 19/2019/TLST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Địa chỉ: 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trọng Toàn.

Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai.

Địa chỉ: Tổ 8, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Võ Văn Dũng - Sinh năm: 1976.

Bà Nguyễn Thị kiều Loan – Sinh năm: 1986.

Cùng địa chỉ: Làng Tar, xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

Căn cứ vào tài iệu chứng cứ đã được xem xét t i phiên t a kết quả tranh tụng t i phiên t a c c quy định của ph p uật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU

1/ Về quan hệ tranh chấp:

Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Biểu quyết nhất trí 03/03.

2/ Về Điều luật áp dụng:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Áp dụng khoản 3 Điều 40; khoản 1 Điều 299; khoản 6 Điều 320; Điều 465; Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 90, 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2018; Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Biểu quyết nhất trí 03/03.

3/ Về xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

3.1 Buộc ông Võ Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Kiều Loan phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 12/12/2019 là: 184,513,356 đồng(Một trăm t m mươi bốn triệu năm trăm mười ba nghìn, ba trăm năm mươi s u đồng). Trong đó: Tiền nợ gốc là 150,000,000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và tiền nợ lãi là 34,513,356 đồng (Ba mươi bốn triệu năm trăm mười ba ngh n ba trăm năm mươi s u đồng) theo hợp đồng tín dụng số: 19168121/HĐTD ngày 09/12/2016.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/12/2019) cho đến khi thi hành xong các khoản nợ trên, ông Võ Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Kiều Loan còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 19168121/HĐTD ngày 09/12/2016.

Biểu quyết nhất trí 03/03.

3.3 Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Võ Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Kiều Loan không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo nội dung các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 19168121/HĐTC ngày 09/12/2016.

Trong quá trình xử lý tài sản thế chấp nếu có phát sinh tranh chấp thì các bên liên quan có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Biểu quyết nhất trí 03/03.

4/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Võ Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Kiều Loan phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 9,226,000 đồng (Chín triệu hai trăm hai mươi s u nghìn đồng).

Trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 4,211,000 đồng (Bốn triệu hai trăm mười một ngh n đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000870 ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Biểu quyết nhất trí 03/03.

5/ Về phần kháng cáo và các vấn đề khác:

Thời hạn kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/12/2019), các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Biểu quyết nhất trí 03/03

Trường hợp bản n được thi hành theo quy định t i điều 2 Luật thi hành n dân sự th người được thi hành n dân sự người phải thi hành n dân sự có quyền thoả thuận thi hành n quyền yêu cầu thi hành n tự nguyện thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định t i c c điều 6 7 và 9 Luật thi hành n dân sự; Thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định t i điều 30 Luật thi hành n dân sự.

Nghị án kết thúc vào hồi 11 giờ 00 phút, ngày 12 tháng 12 năm 2019.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng

nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN MANG YANG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI Bản án số: 03/2019/DS-ST Ngày 28 tháng 5 năm 2019

“V/v Tranh chấp hợp

đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm ph n - Chủ tọa phiên t a: Ông Trƣơng Nam Trung

C c Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tiền và ông Thân Văn Thái.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Thạch – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2018/TLST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2018, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Địa chỉ: 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trọng Toàn.

Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai.

Địa chỉ: Tổ 8, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn Quế - Sinh năm: 1973.

Bà Ngô Thị Thiện – Sinh năm: 1974.

Cùng địa chỉ: Làng Chuk, xã Kon Thụp, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người có quyền ợi nghĩa vụ iên quan: Ông Lê Văn Trọng, sinh năm 1973; Địa chỉ: Làng Chuk, xã Kon Thụp, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 10/9/2018 ời khai trong qu tr nh giải quyết vụ n và t i phiên t a thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Vợ chồng ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện có ký kết 02 hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai để vay tiền:

1. Hợp đồng tín dụng số 2017055/HĐTD ngày 02/3/2017, số tiền vay là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 02/3/2017 đến ngày 01/3/2018), lãi suất vay trong hạn 10,0%/năm, lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, mục đích sử dụng tiền vay: Chi phí sản xuất, kinh doanh đời sống của hộ gia đình. Hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay có cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG670039 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang cấp ngày 09/02/2017. Ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện đã nhận tiền vay vào ngày 02/3/2017 và đã trả tiền lãi đến ngày 01/12/2017 với tổng số tiền lãi là 5.347.220 đồng.

Hiện tại ông Quế và bà Thiện còn nợ Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 2017055/HĐTD số tiền nợ gốc 70.000.000 đồng và số tiền nợ lãi tính đến ngày 28/5/2019 là 14.962.502 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn là 1.750.002 đồng và nợ lãi quá hạn là 13.212.500 đồng.

2. Hợp đồng tín dụng số 2017777/HĐTD ngày 21/8/2017, vay số tiền 1.700.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 21/8/2017 đến ngày 20/8/2018), lãi suất vay trong hạn 9,0%/năm, lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, mục đích sử dụng tiền vay: Làm sân phơi, trồng mới và chăm sóc hồ tiêu, cà phê. Ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện đã nhận tiền vay vào ngày 21/8/2017 và đã trả tiền lãi đến ngày 28/02/2018 với tổng số tiền lãi là 81.600.000 đồng.

Hiện tại ông Quế và bà Thiện còn nợ Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 2017777/HĐTD số tiền nợ gốc 1.700.000.000 đồng và số tiền nợ lãi tính đến ngày 28/5/2019 là 252.662.500 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn là 73.525.000 đồng và nợ lãi quá hạn là 179.137.500 đồng.

Để đảm bảo nợ vay của hợp đồng tín dụng số 2017777/HĐTD ông Quế, bà Thiện thế chấp các tài sản sau:

- Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 590717 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang cấp ngày 10/6/2013.

- Thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số AM 820544 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang cấp ngày 09/7/2008.

- Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 820548 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang cấp ngày 09/7/2008.

- Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 456361 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang cấp ngày 22/6/2015.

Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2017777/HĐTC ngày 21/8/2017, đã được Phòng đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai chi nhánh huyện Mang Yang chứng nhận thế chấp ngày 21/8/2017, hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Do ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền 2.037.625.002 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 1.770.000.000 đồng; tiền nợ lãi tính đến ngày 28/5/2019 là 267.625.002 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngảy 29/5/2019 cho đến khi ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện trả hết nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

2. Trường hợp ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện không trả được nợ hoặc không trả đủ số nợ trên cho Ngân hàng, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp của ông Quế, bà Thiện theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2017777/HĐTC ngày 21/8/2017 gồm các thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 590717 cấp ngày 10/6/2013; thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 820544 cấp ngày 09/7/2008; thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 820548 cấp ngày 09/7/2008 và thửa đất đã được cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 456361 cấp ngày 22/6/2015 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Đối với bị đơn ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông bà đều vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Qua xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cho biết bị đơn ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện có hộ khẩu thường trú tại làng Chuk, xã Kon Thụp, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai nhưng hiện nay đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, không xác định được hiện đang ở đâu và thời điểm trở về. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để ông bà đến tham gia phiên tòa nhưng ông Quế, bà Thiện tiếp tục vắng mặt, do vậy không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để Hội đồng xét xử xem xét.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang có ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ ngày thụ lý cho đến thời điểm xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc là 1.770.000.000 đồng và tiền nợ lãi tính đến ngày 28/5/2019 là 267.625.002 đồng và tiền lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2017055/HĐTD và số 2017777/HĐTD tính kể từ ngày 29/5/2019 cho đến khi ông Quế, bà Thiện trả hết nợ cho Ngân hàng. Nếu bị đơn là ông Quế và bà Thiện không trả được nợ hoặc không trả đủ số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí: Buộc bị đơn ông Quế và bà Thiện phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu c c tài iệu có trong hồ sơ vụ n được thẩm tra t i phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh uận t i phiên t a Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 14/9/2018, nguyên đơn là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có đơn khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện thanh toán số tiền nợ gốc là 1.770.000.000 đồng và nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 10/9/2018 là 93.847.223 đồng. Xét hình thức, nội dung đơn khởi kiện là đúng theo quy định của pháp luật. Đây là tranh nhấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo kết quả xác minh của Tòa án tại UBND xã Kon Thụp, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, bị đơn là ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện có địa chỉ nơi cư trú đúng với địa chỉ mà nguyên đơn đã ghi trong đơn khởi kiện và đúng với địa chỉ ghi trong hợp đồng. Tuy nhiên, khi Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, bị đơn đã đi khỏi nơi cư trú mà nguyên đơn đã cung cấp nhưng không thông báo cho nguyên đơn và cơ quan có thẩm quyền biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Dân sự 2015, cố tình giấu địa chỉ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và niêm yết những văn bản tố tụng để tiến hành giải quyết theo thủ tục chung. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành thủ tục triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn là ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện phải cùng có nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 2017055/HĐTD ngày 02/3/2017 và Hợp đồng tín dụng 2017777/HĐTD ngày 21/8/2017. Xét hình thức và nội dung của các Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận là phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Bị đơn không có ý kiến phản đối nên có căn cứ xác định hai hợp đồng tín dụng này là có thật.

[3] Xét nội dung Hợp đồng tín dụng 2017777/HĐTD ngày 21/8/2017: số tiền vay là 1.700.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm triệu đồng), ngày giải ngân là ngày 21/8/2017 (theo giấy nhận nợ ngày 21/8/2017), lãi suất trong hạn là 9%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 13,5%/năm (bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn). Thời hạn vay đến ngày 20/8/2018 là hết hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Quế bà Thiện chỉ trả được 01 kỳ tiền lãi là 81.600.000 đồng, ngoài ra không trả bất kỳ khoản nợ gốc và lãi nào khác. Đến ngày 21/8/2018 thì Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn là phù hợp. Tiền lãi trong hạn (từ ngày 21/8/2017 đến ngày 20/8/2018) của nợ gốc 1.700.000.000 đồng, lãi suất 9%/năm là 155.125.000 đồng, ông Quế bà Thiện đã trả 81.600.000 đồng, nên Ngân hàng yêu cầu số tiền lãi trong hạn là 73.525.000 đồng (Bảy mươi ba triệu, năm trăm hai mươi lăm triệu đồng) là phù hợp. Tiền lãi quá hạn của nợ gốc 1.700.000.000 đồng, lãi suất 13,5/năm (từ ngày 21/8/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 28/5/2019) là 179.137.500 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu, một trăm ba mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) là phù hợp. Tổng cộng tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (28/5/2019) là 252.662.500 đồng. Như vậy, đối với Hợp đồng tín dụng 2017777/HĐTD ngày 21/8/2017 Ngân hàng yêu cầu ông Quế bà Thiện phải trả số tiền nợ gốc là 1.700.000.000 đồng và tiền lãi là 252.662.500 đồng, tổng cộng là 1.952.662.500 đồng (Một tỷ, chín trăm năm mươi hai triệu, sáu trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm đồng) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét nội dung Hợp đồng tín dụng 2017055/HĐTD ngày 02/3/2017: số tiền vay là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), ngày giải ngân là ngày 02/3/2017 (theo giấy nhận nợ ngày 02/3/2017), lãi suất trong hạn là 10%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 15%/năm (bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn). Thời hạn vay 12 tháng đến ngày 01/3/2018 là hết hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Quế bà Thiện đã trả được số tiền lãi là 5.347.200 đồng, ngoài ra không trả bất kỳ khoản nợ gốc và lãi nào khác. Đến ngày 02/3/2018 thì Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn là phù hợp. Tiền lãi trong hạn (từ ngày 02/3/2017 đến ngày 01/3/2018) của nợ gốc 70.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm là 7.097.222 đồng, ông Quế bà Tiện đã trả 5.347.200 đồng, nên Ngân hàng yêu cầu số tiền lãi trong hạn là 1.750.002 đồng (Một triệu, bảy trăm năm mươi nghìn lẻ hai đồng) là phù hợp. Tiền lãi quá hạn của nợ gốc 70.000.000 đồng, lãi suất 15%/năm (từ ngày 02/3/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 28/5/2019) là 13.212.500 đồng (Mười ba triệu, hai trăm mười hai nghìn, năm trăm đồng) là phù hợp. Tổng cộng tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (28/5/2019) là 14.962.502 đồng. Như vậy, đối với Hợp đồng tín dụng 2017055/HĐTD ngày 02/3/2017 Ngân hàng yêu cầu ông Quế bà Thiện phải trả số tiền nợ gốc là 70.000.000 đồng và tiền lãi là 14.962.502 đồng, tổng cộng là 84.962.502 đồng (Tám mươi bốn triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm lẻ hai đồng) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Việc tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Cụ thể, vì các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nên nếu ông Lê Văn Quế và bà Đỗ Thị Thiện chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (28/5/2018) cho đến khi thi hành án xong ông Quế và bà Thiện còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

[6] Xét yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp giữa các bên đã kí kết: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2017777/HĐTC ngày 21/8/2017 giữa ông Quế, bà Thiện và Ngân hàng là hợp pháp, nội dung thỏa thuận phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự. Bên thế chấp dùng tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản nợ gốc, lãi và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác. Theo quy định tại khoản 6 Điều 320 và khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Dân sự thì trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên thế chấp phải giao tài sản thế chấp để xử lý. Vì vậy nguyên đơn yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 00, tờ bản đồ số: trích đo, diện tích 7.752,5 m2 , địa chỉ: Làng Chuk, xã Kon Thụp, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 456361 ngày 22/6/2015 cho ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện, qua xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện tại trên thửa đất có một phần diện tích ông Lê Văn Trọng, sinh năm 1973, địa chỉ: Làng Chuk, xã Kon Thụp, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đang canh tác trồng tiêu và cây ăn trái. Trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn và ông Trọng đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề này trong vụ án này mà sau này khi xử lý tài sản thế chấp các bên sẽ thỏa thuận giải quyết với nhau, nếu có phát sinh tranh chấp thì sẽ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác. Xét ý kiến thỏa thuận của đại diện nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là tự nguyện và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Đối với toàn bộ số tiền lệ phí đăng tin tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú trên phương tiện thông tin đại chúng mà Ngân hàng đã đóng tạm ứng là 3.044.000 đồng, số tiền trên Ngân hàng tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Đối với toàn bộ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.500.000 đồng mà nguyên đơn đã đóng tạm ứng trong quá trình giải quyết vụ án. Nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí trên. Xét thấy toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.500.000 đồng, toàn bộ số tiền trên ông Quế và bà Thiện có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng theo quy định tại khoản 1 Điều 157, Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[10] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn là người có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cụ thể, bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho Ngân hàng (2.037.625.002 đồng) là: 72.752.500 đồng (Bảy mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm đồng).

V c c ẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 235; Điều 266 và Điều 273 của BLTTDS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Áp dụng khoản 3 Điều 40; khoản 1 Điều 299; khoản 6 Điều 320; Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 90, 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2018; Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

1. Buộc ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 28/5/2019 là: 84.962.502 đồng (T m mươi bốn triệu chín trăm s u mươi hai ngh n năm trăm ẻ hai đồng) Trong đó: Tiền nợ gốc là 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu đồng) và tiền nợ lãi tính đến ngày 28/5/2019 là 14.962.502 đồng (Mười bốn triệu chín trăm s u mươi hai ngh n năm trăm ẻ hai đồng) theo hợp đồng tín dụng số 2017055/HĐTD ngày 02/3/2017. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/5/2019) cho đến khi thi hành xong, ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2017055/HĐTD ngày 02/3/2017.

2. Buộc ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 28/5/2019 là: 1.952.662.500 đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi hai triệu s u trăm s u mươi s u ngh n năm trăm đồng), trong đó: Tiền nợ gốc là 1.700.000.000đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng) và tiền nợ lãi tính đến ngày 28/5/2019 là 252.662.500 đồng (Hai trăm năm mươi hai triệu, s u trăm s u mươi hai nghìn, năm trăm đồng) theo hợp đồng số 2017777/HĐTD ngày 21/8/2017. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/5/2019) cho đến khi thi hành xong, ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2017777/HĐTD ngày 21/8/2017.

3. Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo nội dung các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2017777/HĐTC ngày 21/8/2017.

Trong quá trình xử lý tài sản thế chấp nếu có phát sinh tranh chấp thì các bên liên quan có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện phải liên đới trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngh n đồng).

4. Về án phí: Buộc Ông Lê Văn Quế và bà Ngô Thị Thiện phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 72.752.500 đồng (Bảy mươi hai triệu bảy trăm năm mươi hai ngh n năm trăm đồng);

Trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 33.957.708 đồng (Ba mươi ba triệu chín trăm năm mươi bảy ngh n bảy trăm ẻ t m đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004978 ngày 18 tháng 9 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản n được thi hành theo quy định t i điều 2 Luật thi hành án dân sự th người được thi hành n dân sự người phải thi hành n dân sự có quyền thoả thuận thi hành n quyền yêu cầu thi hành n tự nguyện thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định t i c c điều 6 7 và 9 Luật thi hành n dân sự; Thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định t i điều 30 Luật thi hành n dân sự.

5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/5/2019), các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ