- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L như sau:
- Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/DS-PT Ngày 11 - 3 - 2020 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Hữu Khoa
Các Thẩm phán: 1. Ông Đặng Phi Long
2. Ông Trương Quyết Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thu Ngân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2019/TLPT-DS ngày 27 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L bị Nguyên đơn ông Bùi Đức G; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T và bà Lê Thị P kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân thành phố L kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐ-PT ngày 03/02/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2020 ngày 19/02/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Bùi Đức G và Bà Nguyễn Thị N;
Cùng địa chỉ: Tổ 15, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ - Địa chỉ: Số nhà 051, đường L, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Ông Lê Khánh H và Bà Phạm Thị Đ;
Cùng địa chỉ: Số nhà 008, đường H, tổ 6, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Đ: Ông Lê Khánh H - Địa chỉ: Số nhà 008, đường H, tổ 6, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Văn T;
- Bà Lê Thị P;
Cùng địa chỉ: Số nhà 008, đường H, Tổ 6, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Dương Văn T và bà Lê Thị P: Ông Trần Mạnh H - Địa chỉ: Số nhà 007, phố T, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Bùi Đức G và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T, bà Lê Thị P.
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thành phố L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai của ông Bùi Đức G, bà Nguyễn Thị N, người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Ngày 23/6/2002, ông Bùi Đức G, bà Nguyễn Thị N nhận chuyển nhượng đ t của ông Lưu Thùy K, bà Nguyễn Thị P diện t ch đ t là 20m2 K ch thư c chiều rộng là 5m x 4m , thửa số 53, tờ bản đ số D1, địa chỉ thửa đ t tại tổ 13 nay là tổ 6 , phường D, thị xã L nay là thành phố L , tỉnh Lào Cai theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t GCNQSDĐ số G 613000, số vào sổ 48 QSDĐ do Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lào Cai c p ngày 20/01/1996 mang tên ông Lưu Thùy K, bà Nguyễn Thị P nhưng đến ngày 13/8/2018 m i làm hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t có công chứng nhưng chưa sang tên được do xảy ra tranh ch p.
Năm 2016, ông Lê Khánh H, bà Phạm Thị Đ đến sinh sống tại số nhà 008, tổ 6, đường H, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Đến ngày 25/5/2017, vợ ch ng ông H bà Đ sửa chữa, xây nhà l n sang phần diện t ch đ t trên, gia đ nh ông G đã yêu cầu nhưng vợ ch ng ông H không tháo d phần nhà xây dựng l n chiếm diện t ch khoảng 20m2. Đến nay ông G và bà N khởi kiện th ông H, bà Đ đã chuyển nhượng nhà, quyền sử dụng đ t cho ông Dương Văn T và bà Lê Thị P. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông H và bà Đ tháo d công tr nh xây dựng, tài sản trên đ t trả lại diện t ch là 16,9m2.
Tại bản tự khai bị đơn ông Lê Khánh H đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Đ trình bày:
Ngày 26/4/2016, ông Lê Khánh H và bà Phạm Thị Đ nhận chuyển nhượng diện t ch đ t 80m2 K ch thư c chiều rộng 5 m, chiều sâu 16m , thửa đ t số 25, tờ bản đ số P2-3, địa chỉ thửa đ t tại số nhà 008, tổ 6, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai, thửa đ t đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Lào Cai c p quyền sử dụng ngày 03/02/2016 mang tên ông Nguyên Thành N và bà Phạm Thị Thu H, trên đ t có 01 ngôi nhà xây 01 tầng, 01 tum của ông N bà H. Ngày 24/5/2017 ông H bà Đ làm xong thủ tục sang tên GCNQSDĐ.
Tháng 5/2017, ông H và bà Đ tiến hành sửa chữa nhà thiết kế xây t móng tường chịu lực thành c y cột bê tông trên nền móng c , c y thêm cột bê tông ra ph a trư c đường H khoảng 1,5m, còn lại phần ph a sau c y cột bê tông trên nền móng nhà c tạo thành nhà khung cứng liền khối, thành nhà 03 tầng, mái tầng 2 đổ bê tông, tầng 03 ph a sau lợp mái tôn, có khung sắt bao quanh bảo vệ ph a sau, trên tường có gắn 01 ống thoát nư c, 01 máy làm lạnh điều hòa. Ông H th a nhận phần diện t ch mái bê tông tầng 2 ph a sau có l n sang diện t ch đ t 7,5m2 của ông G và bà N, s có trách nhiệm tháo d trả lại đ t, còn phần nhà xây dựng dư i mặt đ t có diện t ch 9,4m2 không l n chiếm sang phần diện t ch đ t của ông G và bà N. Tranh ch p quyền sử dụng đ t giữa các bên đã được hòa giải tại địa phương nhưng không thành. Đến ngày 18/6/2019, ông H và bà Đ chuyển nhượng nhà, quyền sử dụng đ t nêu trên cho ông Dương Văn T và bà Lê Thị P có công chứng nhưng v đ t đang tranh ch p nên chưa sang tên được cho ông T và bà P.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T và bà Lê Thị P, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ngày 18/6/2019, ông Dương Văn T và bà Lê Thị P nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t, tài sản gắn liền v i đ t là nhà của ông Lê Khánh H và bà Phạm Thị Đ, diện t ch đ t 80m2 k ch thư c là 5m x 16m , thửa đ t số 25, tờ bản đ số P2-3, địa chỉ thửa đ t tại số nhà 008, tổ 6, đường H, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đ t đã được c p GCNQSDĐ số CH 373619 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Lào Cai c p ngày 24/5/2017 mang tên ông Lê Khánh H và bà Phạm Thị Đ. Khi nhận chuyển nhượng, ông H nói là phần mái bê tông tầng 2 ph a sau của ngôi nhà có l n chiếm sang đ t của ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N sau này s phá d . Khi gia đ nh ông T và bà P chuyển đến sinh sống th biết ông G bà N đã khởi kiện ông H bà Đ vụ án tranh ch p đ t quyền sử dụng đ t, nên chưa làm thủ tục chuyển được quyền sử dụng đ t. Ông T và bà P không nh t tr v i yêu cầu khởi kiện của ông G, bà N.
Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 203 của Luật Đ t đai; Điều 164; Điều 166; Điều 288 của Bộ luật Dân sự; Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án:
1. Buộc ông Dương Văn T và bà Lê Thị P phải phá d tài sản, phần công tr nh xây dựng, cụ thể: Phần mái nhà tầng 2, phần ph a sau đổ bê tông cốt thép, có diện t ch là 7,5m2; Ô khung sắt ph a sau bao quanh bảo vệ phần diện t ch bê tông là 7,5m2; Phần mái tôn tầng 3 ph a sau bao phủ phần diện t ch bê tông 7,5m2; 01 ống thoát nư c gắn trên tường ph a sau nhà; 01 máy làm lạnh máy điều hòa gắn trên tường ph a sau của ngôi nhà - Địa chỉ: Số 008, đường H, tổ 6, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Trả lại quyền sử dụng đ t diện t ch là 7,5m2, thửa đ t số 53, tờ bản đ số D1 - Địa chỉ: Số nhà 008, tổ 13 nay tổ 6 , phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số G 613000, số vào sổ c p gi y chứng nhận 48 QSDĐ do Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai c p ngày 20/01/1996 mang tên ông Lưu Thùy K và bà Nguyễn Thị P cho ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N K m theo biên bản xem xét thẩm định tại ch ngày 29 tháng 8 năm 2019 và Bản tr ch đo địa ch nh phục vụ thẩm định tại ch bảng kê tọa độ và tr ch thửa đ t .
Ông Dương Văn T và bà Lê Thị P được quyền sử dụng diện t ch đ t là 9,4m2, thửa đ t số 53, tờ bản đ số D1 - Địa chỉ: Tổ 13 nay tổ 6 , phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai theo GCNQSDĐ số G 613000, số vào sổ c p gi y chứng nhận 48 QSDĐ do Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai c p ngày 20 tháng 01 năm 1996 mang tên ông Lưu Thùy K và bà Nguyễn Thị P. Ông Dương Văn T và bà Lê Thị P phải trả số tiền là 94.000.000đ ng Ch n mươi bốn triệu đ ng tương đương trị giá quyền sử dụng diện t ch đ t nêu trên cho ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N K m theo biên bản xem xét thẩm định tại ch ngày 29 tháng 8 năm 2019 và Bản tr ch đo địa ch nh phục vụ thẩm định tại ch bảng kê tọa độ và tr ch thửa đ t .
2. Xác nhận ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N có quyền sử dụng diện t ch đ t là 20m2, thửa đ t số 53, tờ bản đ số D1 - Địa chỉ: Số nhà 008, đường H, tổ 6, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số G 613000, số vào sổ c p gi y chứng nhận 48 QSDĐ do Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai c p ngày 20 tháng 01 năm 1996 mang tên ông Lưu Thùy K và bà Nguyễn Thị P. Do ông Dương Văn T và bà Lê Thị P đã trả số tiền tương đương trị giá quyền sử dụng đ t, diện t ch là 9,4m2. Như vậy, ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N có quyền sử dụng đ t, diện t ch đ t còn lại là 10,6m2.
Ông Dương Văn T và bà Lê Thị P, ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ liên hệ v i cơ quan nhà nư c có thẩm quyền, để làm thủ tục c p GCNQSDĐ, theo quy định của pháp luật về đ t đai.
3. Về án ph : Ông Dương Văn T và bà Lê Thị P phải liên đ i chịu số tiền là 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đồng) án ph dân sự sơ thẩm và số tiền là 4.700.000 đ ng (Bốn triệu bẩy trăm nghìn đồng) án ph dân sự sơ thẩm đối v i số tiền phải trả cho ông Bùi Đức G, và bà Nguyễn Thị N. Tổng cộng số tiền là 5.000.000 đ ng (Năm triệu đồng).
Ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N không phải chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm, được hoàn lại cho ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án ph đã nộp số tiền là 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án ph số AB/2012/0006203 ngày 19 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố L.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi ph tố tụng, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành cho các đương sự.
Ngày 04/12/2019, nguyên đơn ông Bùi Đức G kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc b i thường, đề nghị Tòa án c p phúc thẩm xét xử theo hư ng sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Dương Văn T và bà Lê Thị P phải tháo d toàn bộ diện t ch đã l n chiếm và trả lại diện t ch đ t cho nguyên đơn.
Ngày 03/12/2019, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T và bà Lê Thị P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án c p phúc thẩm xét xử theo hư ng hủy bản án sơ thẩm và đ nh chỉ giải quyết vụ án.
Ngày 03/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 655/QĐKNPT-VKS-DS, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm về án ph , đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm theo hư ng sửa một phần bản án, buộc bị đơn phải chịu toàn bộ số tiền án ph dân sự sơ thẩm là 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Bùi Đức G giữ nguyên nội dung khởi kiện và nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T và bà Lê Thị P thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đ ng xét xử sửa bản án sơ thẩm giao toàn bộ diện t ch đ t tranh ch p cho ông T bà P và tuyên ông T bà P trả tiền đ t theo giá mà Hội đ ng định giá đưa ra cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai giữ nguyên nội dung kháng nghị của VKSND thành phố L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:
Về việc ch p hành pháp luật tố tụng: Kể t khi thụ lý vụ án cho đến trư c thời điểm Hội đ ng xét xử nghị án th Hội đ ng xét xử, thư ký tòa án đã thực hiện đúng theo tr nh tự, thủ tục tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đều ch p hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong h sơ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét th y tại thời điểm xét xử sơ thẩm th ông H không còn quản lý tài sản, bản án sơ thẩm ch p nhận đơn khởi kiện của ông G nhưng lại buộc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chịu nghĩa vụ về tài sản và chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm là không đúng pháp luật. Đề nghị Hội đ ng xét xử sửa bản án sơ thẩm về án ph theo hư ng buộc bị đơn ông Lê Khánh H bà Phạm Thị Đ phải chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm. Ngoài ra bản án sơ thẩm xác định ông Lê Khánh H bà Phạm Thị Đ là bị đơn là không đúng đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đ ng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao h sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố L giải quyết lại vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện các chứng cứ. Hội đ ng xét xử nhận định:
Về h nh thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Đức G, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T và bà Lê Thị P nộp trong hạn luật định, có đầy đủ nội dung theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được ch p nhận.
Xét quyền khởi kiện của ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N:
Ngày 23/6/2002, ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t 20m2 t ông Lưu Thùy K và bà Nguyễn Thị P, diện t ch đ t 20m2 tại tổ 13 nay là tổ 6), phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đ t đã được UBND tỉnh Lào Cai c p GCNQSDĐ số G 613000 ngày 20/01/1996 diện t ch là 100m2, đã đăng ký biến động chuyển nhượng một phần (80m2 đ t cho hộ bà Hoàng Thị H và ông Nguyễn Nam C. Khi nhận chuyển nhượng giữa ông G bà N v i ông K bà P có làm Gi y biên nhận viết tay và v sơ đ k m theo mô tả rõ phần đ t chuyển nhượng. Đến ngày 13/8/2018, hai bên m i làm Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và công chứng tại Phòng công chứng số 1 tỉnh Lào Cai, số công chứng 2788, quyển số 07-TP/CC-SCC/HĐGD.
Năm 2017, gia đ nh bà H ông C có chuyển nhượng lại diện t ch đ t 80m2 (nhận chuyển nhượng của ông K bà P) cho hộ ông Lê Khánh H, bà Phạm Thị Đ. Khi gia đ nh ông H bà Đ sửa chữa, xây dựng nhà cửa th gia đ nh ông G bà N không có mặt tại địa phương nên đã xảy ra việc hộ ông H bà Đ xây dựng l n chiếm sang diện t ch đ t 20m2 mà hộ ông G bà N nhận chuyển nhượng của ông K bà P.
Sau khi làm Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t v i hộ ông Lưu Thùy K, bà Nguyễn Thị P, ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N đã làm thủ tục đăng ký nhận chuyển nhượng tại cơ quan nhà nư c có thẩm quyền Đơn đăng ký biến động đ t đai, tài sản gắn liền v i đ t ngày 14/8/2018 . Tuy nhiên, theo Biên bản kiểm tra h sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ngày 29/10/2018 có sự tham gia của đại diện UBND phường D và Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố L) đã xác định có sự ch ng l n về ranh gi i v i thửa đ t ph a trư c của hộ ông KLê Khánh H nên không thực hiện thủ tục chuyển nhượng được.
Theo Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật Đất đai”. Tuy việc chuyển quyền sử dụng đ t giữa hộ ông G bà N v i hộ ông K bà P chưa được đăng ký theo quy định của Luật Đ t đai nhưng hai bên đã thực hiện thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền, việc đăng ký chưa có kết quả xu t phát t nguyên nhân khách quan do có sự ch ng l n, tranh ch p quyền sử dụng đ t v i hộ ông Lê Khánh H bà Phạm Thị Đ. Bản án sơ thẩm không đưa ông Lưu Thùy K và bà Nguyễn Thị P vào tham gia tố tụng v i tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là thiếu, tuy nhiên sau khi xét sử sơ thẩm ông Lưu Thùy K và bà Nguyễn Thị P đã có văn bản t bỏ quyền lợi của m nh đối v i diện t ch đ t chuyển nhượng cho ông G, bà N. Như vậy, ông G và bà N hoàn toàn có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền sử dụng của m nh theo quy định của pháp luật, tuy nhiên Tòa án c p sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N về việc buộc gia đ nh ông Lê Khánh H bà Phạm Thị Đ phải tháo d công tr nh đã xây dựng trên đ t l n chiếm, hoàn trả lại diện t ch đã xây dựng nhà sang phần đ t l n chiếm.
Hội đ ng xét xử xét th y tại thời điểm ông G bà N khởi kiện th diện t ch đ t tranh ch p đang do ông Lê Khánh H, bà Phạm Thị Đ trực tiếp quản lý sử dụng. Trong quá tr nh giải quyết vụ án th ông H bà Đào đã chuyển nhượng cho ông Dương Văn T và bà Lê Thị P, hợp đ ng chuyển nhượng đã được công chứng nhưng chưa đăng ký tại cơ quan nhà nư c có thẩm quyền. Ông Dương Văn T và bà Lê Thị P đã nhận bàn giao nhà đ t và trực tiếp quản lý sử dụng. Việc ông Dương Văn T và bà Lê Thị P là người trực tiếp quản lý sử dụng diện t ch đ t tranh ch p ông G bà N đã biết nhưng không rút đơn khởi kiện. Việc Tòa án xét xử ch p nhận yêu cầu của nguyên đơn nhưng lại buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là người đang trực tiếp chiếm giữ diện t ch đ t tranh ch p phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản và phải chịu tiền án ph là không đúng, vượt quá yêu cầu của nguyên đơn. Trong vụ án này nếu nguyên đơn không rút đơn khởi kiện th Tòa án phải xét xử bác đơn khởi kiện của ông Bùi Đức G bà Nguyễn Thị N m i đúng pháp luật.
T những phân t ch trên, xét th y kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Đức G, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T, bà Lê Thị P và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L là có căn cứ pháp luật cần được ch p nhận, sửa bản án sơ thẩm theo hư ng không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông G bà N.
Về chi ph thẩm định và định giá tài sản: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Đức G, bà Nguyễn Thị N không được Tòa án ch p nhận nên phải chịu chi ph tố tụng theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về án ph : Do yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án ch p nhận nên nguyên đơn phải chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm. Do bản án sơ thẩm bị sửa nên người kháng cáo nguyên đơn ông Bùi Đức G và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T, bà Lê Thị P không phải chịu án ph dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 203 của Luật Đ t đai; Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
1. Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Đức G, bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu buộc ông Lê Khánh H, bà Phạm Thị Đ phải tháo d tài sản trả lại 20m2 đ t tại thửa số 53, tờ bản đ số D1 - Địa chỉ: Số nhà 008, tổ 13 nay tổ 6 , phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số G 613000, số vào sổ c p gi y chứng nhận 48 QSDĐ do Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai c p ngày 20/01/1996 mang tên ông Lưu Thùy K.
2. Về chi ph xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản:
Ông Bùi Đức G, bà Nguyễn Thị N phải chịu 10.270.000đ ng. Xác nhận ông G bà N đã nộp đủ tiền chi ph thẩm định và định giá tài sản.
3. Về án ph :
Về án ph dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Đức G và bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ ng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án ph dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông Bùi Đức G, bà Nguyễn Thị N đã nộp 300.000đ ng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án ph dân sự sơ thẩm tại biên lai số 0006203 ngày 19/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố L, được kh u tr vào tiền án ph sơ thẩm phải nộp.
Về án ph dân sự phúc thẩm: Ông Bùi Đức G, ông Dương Văn T và bà Lê Thị P không phải chịu tiền án ph dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ông Bùi Đức G 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đồng), trả lại cho ông Dương Văn T và bà Lê Thị P 600.000 đ ng (Sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án ph phúc thẩm đã nộp theo các biên lai thu tiền tạm ứng án ph số AB/2012/0006488 ngày 09/12/2019 và AB/2012/0006500 ngày 11/12/2019 của Chi cục Thi hành dân sự thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể t ngày tuyên án.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND c p cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lào Cai 2 ; - TAND Tp.L; - Chi cục THADS Tp.L; - Các đương sự; - Lưu VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Hữu Khoa |