vanban.org

Bản án 10/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Tuyên án 29/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”. Xử phạt bị cáo Trần Văn D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 01/4/2019. 2. Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 3… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn D - Vi phạm quy định về tham gia giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tội danh và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HS-ST
Ngày: 29/8/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG - TỈNH GIA LAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Nam Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trọng Toàn và ông Ayun

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2019/TLST-HS, ngày 17 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn D – sinh năm 1981 tại tỉnh Quảng Bình.

Nơi ĐKHKTT: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Chỗ ở tạm trú: Tổ dân phố 6, phường N, thị xã G, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh X và bà Trần Thị L; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị bắt tạm giam từ ngày 01/4/2019 đến nay. Có mặt.

* Bị hại: Ph – sinh năm: 1994 (đã chết)

Nơi ĐKHKTT: Làng Ch1, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai.

* Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anữt - sinh năm: 1992

Trú tại: Làng Ch1, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai.

(Vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Kiều Văn T – sinh năm: 1976

Địa chỉ: Tổ 3, phường N, thị xã G, tỉnh Đăk Nông.

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn D (có giấy phép lái xe ô tô hạng E) là tài xế lái xe thuê cho ông Kiều Văn T. Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 09/12/2018, Trần Văn D điều khiển xe ô tô BKS: 51B-268.75 lưu thông theo hướng An Khê – Pleiku, khi đi đến Km 122-100m, quốc lộ 19, thuộc thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai thì D vượt xe không đảm bảo an toàn nên đã va quẹt vào xe mô tô BKS: 81E1-124.47 do Ph điều khiển chở sau là A (sinh năm: 2003), P (sinh năm: 2013) trú cùng địa chỉ đang lưu thông phía trước cùng chiều gây tai nạn giao thông. Hậu quả Ph chết tại chỗ, A và P bị thương nhẹ nên quá trình điều tra đã có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự.

Tại kết luận giám định pháp y số 61 ngày 17/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận nguyên nhân chết: chấn thương sọ não.

Về vật chứng vụ án: 01 xe ô tô mang BKS: 51B-268.75 do ông Kiều Văn T là chủ sở hữu và 01 mô tô mang BKS: 81E1-124.47 thuộc sở hữu của gia đình bị hại Ph. Ngày 28/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe ô tô cho ông Kiều Văn T và xe mô tô cho gia đình bị hại.

Về phần dân sự: Quá trình điều tra Trần Văn D cùng ông Kiều Văn T (là chủ xe ô tô khách BKS 51B-268.75) đã bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 104.000.000 đồng. Trong đó bị cáo Trần Văn D bồi thường 50.000.000 đồng, ông Kiều Văn T bồi thường 54.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại đối với Trần Văn D và không yêu cầu cơ quan pháp luật giải quyết gì thêm về phần trách nhiệm dân sự.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKS, ngày 17 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trần Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn D mức hình phạt từ 06 đến 09 tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng là đúng, bị cáo thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên nhưng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội cải tạo hòa nhập cộng đồng, làm công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại hồ sơ thể hiện đã nhận tiền bồi thường nên không có yêu cầu gì thêm và về hình sự, xin giảm nhẹ cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Điều tra viên Công an huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các đương sự trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 09/12/2018, do vượt xe không đảm bảo an toàn vi phạm quy định tại Điều 14 Luật an toàn giao thông đường bộ nên xe ô tô BKS 51B-268.75 do Trần Văn D điều khiển đã va quẹt vào xe mô tô BKS 81E1-124.47 do Ph điều khiển chở sau A và P. Hậu quả làm Ph chết tại chỗ, A và P bị thương nhẹ. Bị cáo đã được Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đăk Nông cấp giấy phép lái xe ô tô hạng E ngày 23/11/2017, tuy nhiên bị cáo khi điều khiển xe ôtô BKS 51B-268.75 đã vi phạm quy định về “vượt xe” khi không quan sát kỹ, không báo hiệu bằng đèn hoặc còi, vượt khi có chướng ngại vật phía trước theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ, gây ra tai nạn hậu quả nghiêm trọng làm 01 người tử vong. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại đầy đủ theo yêu cầu cho gia đình bị hại. Trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có cha và mẹ đều là người có công với cách mạng; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Bị cáo xin được hưởng án treo nhưng xét nơi cư trú không ổn định nên không có cơ sở chấp nhận. Xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vì vậy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp thể hiện sự khoan hồng nhân đạo của pháp luật đồng thời đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng là 01 xe ô tô mang BKS: 51B-268.75 do ông Kiều Văn T là chủ sở hữu và 01 mô tô mang BKS: 81E1-124.47 thuộc sở hữu của gia đình bị hại Phye đã được Cơ quan điều tra xử lý đúng trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 01/4/2019. 2. Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Trần Văn D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 3. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (29/8/2019) bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ