- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2019/HS-ST Ngày: 28/01/2019 |
NHÂN DANH
NỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Thành
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Vinh.
Ông Lê Minh Trực.
Ông Nguyễn Danh Lơi.
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Lê Xuân Lễ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 76/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2018/QĐXX ngày 28 tháng 12 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/HSST-QĐ ngày 07/01/2019 đối với các bị cáo:
1. Lại Mạnh Dn - Sinh năm 1980, tên gọi khác: Không; ĐKNKTT: Tổ 4, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lại Trọng K và bà Đỗ Thị T; Vợ Sầm Thị H, có 02 con, lớn sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2018; Gia đình có 4 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 3;
Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ, tạm giam:
Từ ngày 20/7/2018 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).
2. Lê Văn Hg - Sinh năm 1993, tên gọi khác: Không; ĐKNKTT: Thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không ; Giới tính: Nam; Cong ông Lê Văn H (Đã chết) và bà Lê Thị T; Vợ: Lê Thị T; Có 01 con sinh năm 2016.
Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 2 anh em ruột.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo đang bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định khởi tố bị can số 256/QĐ-PC02 ngày 24/8/2018.
Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 20/7/2018 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg:
Luật sư Lê Thị Hoài Tấn - Văn phòng Luật sư TVPL Tấn Phương - Thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày20/7/2018, Tổ công tác đội Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đang làm nhiệm vụ tại đường Đại Lộ Hùng Vương, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện bắt quả tang Lại Mạnh Dn, sinh năm 1980, trú tại phường G, TP. T, tỉnh Thái Nguyên và Lê Văn Hg, sinh năm 1993, trú tại thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật và tài sản thu giữ gồm:
- 01 (một) gói nilon màu đen, bên trong là gói nilon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng;
- 02 (hai) gói nilon, gồm 01 (một) gói nilon màu đen bên trong là gói nilon màu trắng có chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 1549/MT-PC54 ngày 24/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: 01 (một) gói nilon màu đen, bên trong là gói nilon màu trắng có chứa các hạt tinh thể màu trắng, có khối lượng là 37,285gam (Ba bảy phẩy hai tám năm gam), loại Methamphetamin; 01 (một) gói nilon màu đen, bên trong là gói nilon màu trắng có chứa các hạt tinh thể màu trắng, có khối lượng là 30,891gam (Ba mươi phẩy tám chín một gam) loại Methamphetamin; 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, có khối lượng là 34,594g (Ba mươi bốn phẩy năm chín bốn gam) loại Phethamphetamin.
Quá trình điều tra bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg khai nhận: Do quen biết nhau từ trước, ngày 18/7/2018 Lại Mạnh Dn đang ở cùng vợ con tại bản Phạm, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì nhận được điện thoại của Lê Văn Hg, nội dung Hg sẽ vào Nghệ An chơi mấy hôm. Trưa ngày 19/7/2018 Dn đón Hg và bạn gái của Hg rồi đưa Hg đến ở một phòng trọ gần trường cấp 3 huyện Q, tỉnh Nghệ An. Tại phòng trọ Dn và Hg cùng nhau sử dụng ma túy đá và nói cho Hg biết hiện Dn đang cất giấu ở nhà một lượng ma túy đá khoảng 100gam. Do có ý định từ trước sẽ về Thái Nguyên đổi CMND thành thẻ căn cước công dân nên Dn rủ cùng về quê chơi, Hg nhận lời.
Khoảng 19 giờ ngày 19/7/2018, Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg cùng đi taxi về nhà của Lại Mạnh Dn ở bản P, xã T, Q, Nghệ An. Đến cổng Dn bảo Hg đứng đợi để Dn vào nhà lấy số ma túy đá đem theo luôn, khoảng 5 phút sau Dn quay ra rồi cả hai cùng nhau đón xe khách thuộc nhà xe Đương Hương, chạy tuyến Quế Phong - Thái Nguyên về Thái Nguyên. Khi lên xe, Dn và Hg ngồi sát nhau, Do gói ma túy trong có 03 gói nilon là ma túy đá để trong túi quần Dn bị cộm sợ dễ bị phát hiện, nên Dn lấy ra và đưa cho Lê Văn Hg cầm một gói, Hg nhận rồi cất dấu ở trong lớp vải bọc ghế ngồi phía trước, còn hai gói Dn gói lại và cất dấu vào túi quần của mình. Khi xe đi tới đại lộ Hùng Vương, thuộc phường Đông Hương, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xe dừng để khách nghỉ ăn đêm, Dn nói với Hg xuống xe để bắt taxi đi về cho nhanh, Hg đồng ý và cầm gói ma túy đã cất giấu cùng Dn xuống xe. Khi đang đi trên đoạn giải phân cách đại lộ Hùng Vương thuộc phường Đông Hương, Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa thì bị lực lượng Công an thành phố Thanh Hóa yêu cầu kiểm tra, sợ bị phát hiện nên Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg đã lấy số ma túy đang cất giấu trong người Dn và Hg thả xuống dải phân cách, thì bị tổ tuần tra Công an TP Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật là 03 gói ma túy trên.
Quá trình điều tra, bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra.
Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKS-P1 ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).
Quá trình điều tra, các bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trong bản Cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa, bị cáo Lại Mạnh Dn không đồng ý với kết luận giám định và cho rằng chỉ có 02 gói là ma túy còn một gói không phải là ma túy. Bị cáo Lê Văn Hg không thừa nhận đồng phạm đối với tổng số trọng lượng ma túy đã thu giữ, chỉ thừa nhận hành vi cầm hộ cho bị cáo Dn một gói nhưng không biết đó là ma túy.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đối với Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg về hành vi nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 4; khoản 5 Điều 249; Điều 17; Điều 35 và Điều 38 và Điều 58 BLHS xử phạt Lại Mạnh Dn mức án từ 17 (Mười bảy) đến 18 (Mười tám) năm tù; Xử phạt Lê Văn Hg mức án từ 16 (Mười sáu) đến 17 (Mười bảy) năm tù. Phạt bổ sung mỗi bị cáo 10 (Mười) triệu đồng và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho các bị cáo có ý kiến: Quá trình bắt quả tang, Cơ quan CSĐT đã thu giữ 03 gói ma túy, tuy nhiên bị cáo Hg chỉ cầm 01 gói, sự việc có bị cáo Dn chứng kiến. Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Hg đồng phạm đối với 03 gói ma túy đã thu giữ là chưa chính xác. Đề nghị HĐXX cho trưng cầu giám định lại số ma túy đã thu giữ vì theo bị cáo Dn khai trong số 03 gói ma túy thu giữ có 01 gói là chống ẩm không phải là ma túy. Về khung hình phạt và mức án VKS đề nghị Luật sư không tranh luận.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
. Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện và tuân thủ đúng thẩm quyền tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo quanh co chối tội, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên tại các bản tự khai của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt quả tang và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra, phù hợp với tang vật chứng trong vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận: Vào khoảng 00h 30’ ngày 20/7/2018 tại đại lộ Hùng Vương, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg đang có hành vi tàng trữ trái phép 102,77 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
. Tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, và hình phạt đối với các hành vi phạm tội ma túy rất nghiêm khắc, nhưng Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg vẫn tàng trữ 102,77 gam Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý ma túy của Nhà nước, mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình chính trị, trị an xã hội. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục, đồng thời phòng ngừa chung.
. Hành vi của Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 4 Điều 249 BLHS như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố là đúng người đúng tội đúng pháp luật.
. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Do có quan hệ quen biết từ trước nên khi nhận được điện thoại của Hg với nội dung Hg sẽ vào Nghệ An chơi. Trưa ngày 19/7/2018, Dn đón Hg và Bạn gái của Hg đến một phòng trọ gần trường cấp 3 huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, tại phòng trọ, Dn và Hg đã cùng nhau sử dụng ma túy đá và Dn còn nói cho Hg biết mình đang cất giấu khoảng 100gam ma túy đá tại nhà. Dn rủ Hg về quê Thái Nguyên chơi, Hg đồng ý. Khoảng 19h cùng ngày 19/7/2018 Dn và Hg bắt taxi về nhà Dn, Dn vào nhà lấy số ma túy cất giấu đem theo sau đó cả hai bắt xe khách nhà xe Đương Hương chạy tuyến Quế Phong - Thái Nguyên.
Về nguồn gốc số ma túy bị Công an thu giữ là do Dn cất giấu ở nhà mang theo. Dn khai là của Nguyễn Văn L (1972) trú tại thôn Đ, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An đưa cho Dn khoảng 1 tuần trước khi bị bắt với mục đích cất giấu hộ; sau đó lại khai mua của một người dân tộc Mông tại quán của anh Liên với giá 4,6 triệu, mục đích sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được cụ thể người cung cấp số ma túy này cho Dn. Trong vụ án này, Dn là người trực tiếp có nguồn ma túy, trực tiếp cất giấu và điều hành việc cất giấu số ma túy, Hg là người giúp sức cho Dn thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Dn giữ vai trò chính trong vụ án, vì vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo các bị cáo và ngăn ngừa chung cho xã hội.
. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại phiên tòa, các bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg phản cung, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không thành khẩn khai báo. Bị cáo Lê Văn Hg bố mất sớm, có ông nội là thương binh nặng 81% và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng nhất. Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng đối với bị cáo Lê Văn Hg trước khi bị bắt đã liên quan đến vụ án “Trộm cắp tài sản” tại xã Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và Công an tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định khởi tố bị can ngày 24/8/2018 nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50 BLHS. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg mỗi bị cáo 10 (Mười) triệu đồng sung quỹ Nhà nước.
. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamin thu được trong vụ án còn lại sau giám định đã được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2018 giữa Cơ quan CSĐT (PC04) Công an Tỉnh Thanh Hóa và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
. Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVH14 của Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 4 Điều 249; Điều 17; Khoản 2 Điều 35; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 BLHS;
Xử phạt: Lại Mạnh Dn 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (20/7/2018).
Áp dụng: Điểm b khoản 4 Điều 249; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 BLHS;
Xử phạt: Lê Văn Hg 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (20/7/2018).
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Phạt tiền các bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg mỗi bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamin thu được trong vụ án còn lại sau giám định đã được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành. Theo biên bản giao nhận vật chứng số TV/2019/09 ngày 01/11/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lại Mạnh Dn và Lê Văn Hg, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/01/2019).
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - TAND, VKSND Cấp cao HN; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Quốc Thành |