vanban.org

Bản án 10/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 28/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao N cho UBND xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận theo dỏi việc bị cáo chấp hành hình phạt án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "N bị xét xử về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HS-ST
Ngày 28 - 3 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Trọng Kim.

Ông Lê Đức Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thái Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2019/TLST-HS, ngày 31/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HS, ngày 26/02/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2019/HSST-QĐ, ngày 12/3/2019, đối với bị cáo:

N, sinh năm 1976, tỉnh Bắc Ninh; Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông N1, sinh năm 1950 và con bà D, sinh năm 1952, cùng cư trú tại: Khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 04 anh em, N là con lớn nhất trong gia đình;

Bị cáo có vợ là H, sinh năm 1982, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004 và con nhỏ sinh năm 2014, cùng cư trú tại: Thôn A, xã B, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang được tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 32/2019/HSST-LCCT, ngày 01/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

- Người bị hại: P, sinh năm 1949 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: T, sinh năm 1946; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: C, sinh năm 1930; S, sinh năm 1970; T, sinh năm 1990; H, sinh năm 1981; N2, sinh năm 1985; Cùng nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;

P1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn 1, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;

S1, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn 2, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;

M, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn Q, xã W, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng là người làm chứng: Đ1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Khu phố 3, thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng: T2, sinh năm 1962 và N3, sinh năm 1986; Cùng nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn V, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo N, người đại diện hợp pháp của bị hại T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan S, P1, T, Đ, S1, M; vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là C, H, N2 và người làm chứng T2, N3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 26/9/2018, N, sinh năm 1976, trú taị thôn A, xã B, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (có giấy phép lái xe hạng A1, B2 theo quy định) điều khiển xe ô tô 07 chỗ hiệu Ford Everest biển số 86A-045.60 lưu thông trên đường ĐT 720 theo hướng từ xã Vũ Hòa đi huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 720 và đường Ngô Gia Tự thuộc khu phố 3, thị trấn Võ Xu do không chú ý quan sát đã để xe do mình điều khiển tông vào tay lái bên trái xe đạp do bà P, sinh năm 1949, trú tại khu phố C, thị trấn V điều khiển khi đang qua đường làm bà P té ngã đập đầu xuống đường. Hậu quả bà P bị thương nặng được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong do chấn thương sọ não.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Người đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Gia đình đã nhận tiền bồi thường từ gia đình bị cáo và không có yêu cầu gì về dân sự, gia đình xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 870/PY-PC09 ngày 05/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận thể hiện:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Chấn thương vùng chẩm

- Nứt xương chẩm. Xuất huyết não

2. Cơ chế hình thành vết thương và vật tác động:

Khối sưng nề vùng chẩm do va đập với vật tày gây ra

3. Nguyên nhân chết:

P chết do chấn thương sọ não.

* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 26/9/2018 thể hiện:

1. Hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn:

Nơi xảy ra tai nạn là ngã tư giao nhau giữa đường ĐT720 với đường Ngô Gia Tự. Mặt đường ĐT 720 rộng 16m70, có dải phân cách cứng chia thành 02 chiều lưu thông ngược chiều. Chiều rộng dải phân cách là 1m90, mỗi bên theo chiều dọc của dải phân cách có bờ xây bằng gạch và xi măng cao 0m17 x rộng 0m17. Đường Ngô Gia Tự rộng 6m00 trải bê tông nhựa bằng phẳng. Khoảng cách từ đầu dải phân cách hướng Vũ Hòa đến đầu dải phân cách hướng khu phố 2, thị trấn Võ Xu là 38m70.

2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.

Số (1) trên hiện trường là chiếc xe đạp

Số (2) trên hiện trường là vùng chất lỏng màu nâu đỏ rắc trên hiện trường

Số (3) là vết cày trên bờ xi măng

Số (4) là chiếc dép tông xốp bên trái

Số (5) là xe ô tô 86A - 045.60

3. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn.

- Lấy trụ điện số 472 ĐL/30 làm điểm mốc.

- Lấy mép đường bên phải theo hướng từ xã Vũ Hòa đi vòng xoay khu phố 2 + khu phố 3, thị trấn Võ Xu làm chuẩn.

4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.

Theo hướng Vũ Hòa đi ngã tư vòng xoay khu phố 2 + khu phố 3, thị trấn Võ Xu chúng tôi ghi nhận cụ thể như sau:

- Ký hiệu số (1) trên sơ đồ hiện trường là chiếc xe đạp ngã nghiêng trái, đầu xe hướng về Vũ Hòa, đầu hơi chếch sang bên phải theo hướng khám nghiệm. Từ tâm trục bánh trước đo vuông góc đến mép đường bên phải là 3m45 và đo vuông góc đến tiếp tuyến mép bên phải đường Ngô Gia Tự theo hướng Khu phố 7 đi Khu phố 1 với đường ĐT 720 là 13m30, đo đến trụ điện làm điểm mốc hiện trường là 6m40; tâm trục bánh sau đo vuông góc đến mép đường bên phải là 3m92, tâm trục bánh trước đến trụ biển báo hướng Vũ Hòa là 79m00.

- Ký hiệu số (2) trên sơ đồ hiện trường là vùng chất lỏng màu nâu đỏ, „rắc‟ có kích thước 0m70 x 1m00, điểm giữa của (2) đo vuông góc đến mép đường bên phải là 5m50 và đo đến tâm trục bánh sau của (1) là 2m70.

- Ký hiệu số (3) trên sơ đồ hiện trường là vết cày trên bờ bên phải theo hướng khám nghiệm của dải phân cách cứng (3) có kích thước 0m50 x 0m10 cách mặt đường 0m17. Điểm giữa của (3) đo vuông góc đến mép đường bên phải là 7m45 và đo đến điểm giữa của (2) là 3m45.

- Ký hiệu số (4) trên sơ đồ hiện trường là chiếc dép tông xốp bên trái. Điểm giữa của chiếc dép này đo vuông góc đến mép đường bên phải là 4m00 và đo đến điểm giữa của (3) là 3m70.

- Xe ô tô con biển số 86A - 045.60 đỗ đầu hướng đi ngã tư có vòng xoay khu phố 2 và khu phố 3, thị trấn Võ Xu, đuôi hướng xã Vũ Hòa. Từ mép ngoài tâm trục bánh sau bên phải xe đo vuông góc đến mép đường bên phải là 5m80, đo đến điểm giữa (4) là 3m42, mép ngoài tâm trục bánh trước bên phải đo vuông góc đến mép đường bên phải là 5m30.

- Chiếc dép ký hiệu số 4 có đặc điểm là chiếc dép tông xốp, màu xanh bên trái có kích thước 0m23 x 0m09.

* Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông lập hồi 16 giờ 20 phút ngày 26/9/2018 thể hiện:

Tiến hành khám nghiệm xe đạp liên quan đến vụ TNGT xảy ra hồi 15 giờ 10 phút ngày 26/9/2018 tại km 57 + 260, đường ĐT 720 thuộc khu phố 3, thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

1. Giấy tờ và đặc điểm của phương tiện

Về giấy tờ: không có

Về đặc điểm xe:

- Dài: 1m42

- Cao: 0m96

- Màu sơn: Xanh

- Có giỏ xe phía trước

- Hai tay cầm lái ốp bằng nhựa màu xanh

2. Khám nghiệm các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên phương tiện.

- Đầu tay cầm lái bên trái có vết bong tróc nhưa kích thước 2,5cm x 1,5cm.

- Cạnh ngoài phía bên trái giỏ xe trước có vết mài mòn nhựa kích thước 27cm x 0,7cm.

- Góc cạnh ngoài phía dưới phía trước bên trái có vết mài mòn nhựa, kích thước 1,5cm x 1cm. Dấu vết trên là của giỏ xe trước.

- Đầu bàn đạp bên trái có vết mài mòn kích thước 0,6cm x 0,6cm.

- Đầu tay cầm lái bên phải có vết trượt xước mất nhựa và bong tróc nhựa kích thước 3cm x 2cm. Đo từ tay cầm lái này đến đất là 80cm.

* Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông lập hồi 16 giờ 55 phút ngày 26/9/2018 thể hiện:

Tiến hành khám nghiệm phương tiện ô tô biển số 86A-045.60 liên quan đến vụ TNGT xảy ra hồi 15 giờ 10 phút ngày 26/9/2018 tại km 57 + 260, đường ĐT 720 thuộc khu phố 3, thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

1. Về giấy tờ và đặc điểm của phương tiện

- 01 GPLX số 600129001522

- 01 giấy chứng nhận kiểm định GTKT và BVMT

- 01 giấy photo chứng nhận đăng ký xe 86A – 045.60

- Đặc điểm xe ô tô con 86A – 045.60

+ Màu sơn; Trắng

+ Nhãn hiệu: FORD EVEREST

+ Số máy: WLAT894394

+ Số khung: RL053UHMM8RR07436

+ Kích thước bao: 5m009 x 1m789 x 1m835

2. Khám nghiệm các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên phương tiện

- Mặt bên hông của tai xe trước bên phải có vết trượt xước và bám dính chất màu xanh không đều không liên tục kích thước 41cm x 1,5cm. Điểm giữa cách đất 1m00.

- Mặt ngoài của nhựa ốp đèn chiếu sáng trước bên phải có vết trượt xước và bám dính chất màu xanh kích thước 9cm x 2 cm. Điểm giữa vết cày cách đất 0m97.

- Bên hông phải cản trước bị bung hở chốt cố định , kích thước vết bung hở này dài 33cm x 2cm. Trên bề mặt vùng hông phải cản trước có vùng dấu vết trượt xước mất sơn kích thước 38cm x 33cm. Tâm vùng dấu vết trượt xước cách mặt đất 0m60.

* Tại Kết luận giám định 899/KLGĐ-PC09 ngày 15/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

1. Tại thời điểm giám định xe ô tô biển số 86A-045.60:

- Hệ thống lái thuộc lái có trợ lực, các cụm chi tiết của hệ thống lái lắp đặt đầy đủ. Không phát hiện hư hỏng trên hệ thống lái. Hệ thống lái hoạt động bình thường, đảm bảo chuyển hướng theo ý muốn của người điều khiển.

- Hệ thống phanh chính thuộc loại phanh dầu trợ lực được lắp đặt đúng vị trí, kỹ thuật. Không phát hiện dấu vết hư hỏng trên hệ thống phanh chính.

Hệ thống phanh tay (phanh đỗ) có các cụm chi tiết lắp đặt đúng vị trí, kỹ thuật. Không phát hiện hư hỏng.

Hiện tại, hệ thống phanh chính và phanh đỗ của xe ô tô biển số 86A – 045.60 hoạt động bình thường.

- Hệ thống còi của xe ô tô 86A – 045.60 hoạt động.

2. Không đủ cơ sở xác định hiệu lực của hệ thống phanh của xe đạp.

* Tại Kết luận giám định 904/KLGĐ-PC54 ngày 12/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông trên đường ĐT 720:

- Xe ô tô biển số 86A - 045.60 di chuyển theo hướng Vũ Hòa đi ngã tư Võ Xu. Không đủ cơ sở kết luận xe đạp di chuyển theo hướng nào.

- Xe ô tô biển số 86A - 045.60 có các dấu vết va chạm: Dấu vết trượt bám dính chất màu xanh mặt ngoài ốp nhựa đèn chiếu sáng trước bên phải, có chiều hướng đi từ trước ra sau xe; dâu vết trượt bám dính chất màu xanh không liên tục kéo thành sợi dài song song mặt ngoài ốp ca bô bên phải xe, có chiều hướng từ trước ra sau xe phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe đạp: dấu vết trượt xước, bong tróc mất nhựa màu xanh mặt ngoài đầu nắm lái bên trái, có chiều hướng từ sau ra trước xe.

- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 86A - 045.60 và xe đạp nằm trên phần đường bên phải theo hướng chuẩn khám nghiệm.

- Vết cày ký hiệu số 3 tại hiện trường tai nạn giao thông phù hợp với dấu vết bám chất màu trắng ở trên mặt lăn và mặt ngoài lốp xe sau bên trái, sau tai nạn xe dừng có bánh xe sau bên trái nằm hoàn toàn trên gờ xi măng dải phân cách cứng. Vết cày số 3 có chiều hướng từ Vũ Hòa đi ngã tư Võ Xu được tạo ra do sau khi va chạm với xe đạp, xe ô tô biển số 86A - 045.60 đánh lái về bên trái làm bánh xe sau bên trái va chạm với gờ xi măng dải phân cách cứng rồi nằm trên gờ xi măng này.

* Tại Kết luận giám định 973/KLGĐ-PC09 ngày 31/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Giấy phép lái xe số: 600129001522 mang tên N do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 08/4/2015 là thật.

Về dân sự: N đã tự nguyện đến thăm hỏi và bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Gia đình người bị hại đã có đơn xin bãi nại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSĐL-HS ngày 31/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố bị cáo N, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sữa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc dép tông xốp màu xanh, trả lại cho N 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 600129001522 mang tên N.

- Ý kiến của bị cáo N: Đồng ý với nội dung luận tội của Kiểm sát viên nên không có ý kiến tranh luận.

- Bị cáo N nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội lao động nuôi các con.

- Ý kiến người đại diện hợp pháp của bị hại: N đã tự nguyện đến thăm hỏi và bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Gia đình người bị hại đã có đơn xin bãi nại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

- Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Gia đình người bị hại đã có đơn xin bãi nại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét thấy lời khai của bị cáo N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với Kết luận giám định pháp y về tử thi số 870/PY-PC09 ngày 05/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận về nguyên nhân chết của bị hại P, đối chiếu với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 26/9/2018, N, sinh năm 1976, trú taị thôn A, xã B, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (có giấy phép lái xe hạng A1, B2 theo quy định) điều khiển xe ô tô 07 chỗ hiệu Ford Everest biển số 86A-045.60 lưu thông trên đường ĐT 720 theo hướng từ xã Vũ Hòa đi huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 720 và đường Ngô Gia Tự thuộc khu phố 3, thị trấn Võ Xu do không chú ý quan sát đã để xe do mình điều khiển tông vào tay lái bên trái xe đạp do bà P, sinh năm 1949, trú tại khu phố C, thị trấn V điều khiển khi đang qua đường làm bà P té ngã đập đầu xuống đường. Hậu quả bà P bị thương nặng được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong do chấn thương sọ não.

Hành vi điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông của bị cáo N là vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ được quy dịnh tại khoản 23 Điều 8, cụ thể là vi phạm điểm c khoản 8 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Tại Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”

Hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ, gây tai nạn giao thông, hậu quả làm một người tử vong của bị cáo N thuộc tình tiết định khung hình phạt “Làm chết người” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với bị cáo N về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phải nhận biết được các điều kiện để đảm bảo tham gia lưu thông an toàn. Thế nhưng bị cáo lại có thái độ chủ quan, không chú ý quan sát, bị cáo thiếu ý thức tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ, xâm hại đến trật tự an toàn giao thông, gây nên cái chết cho bị hại và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, lỗi trong vụ tai nạn này hoàn toàn do bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo tích cực bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn bãi nại; bị cáo có 03 con còn nhỏ hơn nữa trong các con của bị cáo hiện có một người con bị chậm phát triển tâm thần vận động (Hội chứng Down); và tại phiên tòa gia đình bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc dép tông xốp màu xanh, trả lại cho N 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 600129001522 mang tên N.

Về dân sự: Gia đình của bị hại trình bày tại phiên tòa đã nhận số tiền bồi thường 50.000.000 đồng của bị cáo, nay không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/3/2019.

Giao N cho UBND xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận theo dỏi việc bị cáo chấp hành hình phạt án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc dép tông xốp màu xanh.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho N 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 600129001522 mang tên N.

(Hiện vật chứng trên đang lưu giữ tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; buộc bị cáo N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/3/2019); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại địa phương để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo tại phiên tòa)

Cỡ chữ