- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Nguyễn Hoàng Anh Th - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T 03 (ba) tháng tù, về tội “Đánh bạc” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2019/HS-ST Ngày 29-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà:"Ông Nguyễn Văn Hồng
Các"hội"thẩm"nhân"dân:
Ông Nguyễn Xuân Thùy
Ông Điểu Jơm
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Nguyên, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà:"Ông Phạm Huy Tiền, Kiểm Sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại phòng xét xử, Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2019/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Lý Nguyễn Hoàng Anh T, sinh ngày 06/10/1986; nơi sinh: thành phố H;
Nơi đăng ký HKTT: 95/27 Huỳnh Văn B, phường 17, quận P, thành phố H; Nơi cư trú: Thoân 5, xaõ Q, huyeän Ñ, tænh Ñ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Lý Kiều L (chết); có chồng là Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983 (Không đăng ký kết hôn); có 01 con, sinh năm 2007; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người"làm"chứng: Ông Đào Minh T, sinh năm 1966
Địa chỉ: Thôn 5, xã Q, huyeän Ñ, tænh Ñ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/4/2009, Công an huyện Đắk R’Lấp lập biên bản bắt quả tang và thu giữ trên người Lý Nguyễn Hoàng Anh T 04 tờ xổ số của đài Bà Rịa-Vũng Tàu đã mở thưởng ngày 14/4/2009 mặt sau có ghi các số đề, số bao lô của đài Đồng Nai mở thưởng ngày 15/4/2009 và 03 tờ giấy (một tờ bằng vỏ bao thuốc lá Jet, hai tờ bằng vỏ bao lì xì) có ghi những con số giống với những số ghi trên 04 tờ vé số cùng số tiền 1.100.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp, Lý Nguyễn Hoàng Anh T đã khai nhận:
Bản thân Lý Nguyễn Hoàng Anh T thời điểm năm 2009 làm việc trong xưởng cưa N ở thôn 5, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ. Quá trình làm việc có một số đối tượng cùng làm trong xưởng cưa N nhờ T đi ghi hộ số đề, số bao lô. Ngày 15/4/2009 T nhận ghi hộ số đề, số bao lô cho một số đối tượng và được các đối tượng này ghi các con số đề, bao lô cùng số tiền cá cược lên một tờ giấy bằng vỏ bao thuốc lá Jet, hai tờ bằng vỏ bao lì xì. Thư mang 03 tờ giấy ghi các con số đề, số bao lô đến nhà của Đào Minh T ở thôn 5, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ để ghi và khi ra về thì bị Công an huyện Đắk R’lấp bắt quả tang.
Cụ thể hình thức, tỷ lệ được thua và số tiền T ghi đề, bao lô như sau:
Ngày 15/4/2009 T nhận ghi hộ cho các đối tượng số đề, số bao lô của đài Đồng Nai. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết của đài Đồng Nai mở thưởng vào chiều tối cùng ngày, gồm các giải thưởng từ giải đặc biệt đến giải tám, trong đó giải ba, bốn và sáu có nhiều dãy số, riêng giải đặc biệt, nhất, nhì, năm, bảy và tám chỉ có 01 dãy số, giải tám có 02 con số, từ giải bảy có 03 con số, tăng dần đến giải đặc biệt có 06 con số.
Người đến ghi số cá cược được thua với chủ đề và tự lựa chọn ghi các con số để đánh, thì được chủ đề ghi vào phơi đề, sau khi ghi xong thì người đánh số đề so sánh với kết quả xổ số, nếu trùng với kết quả xổ số (gọi là trúng số đề, trúng lô) thì người đánh đến nhận tiền từ chủ đề, nếu không trúng thì người đánh đề mất số tiền đã ghi cho chủ đề. Hình thức đánh số đề, đánh bao lô như sau:
Thứ nhất người đánh lựa chọn 01 hay nhiều con số bất kỳ có 02 con số để so sánh với 02 số cuối của giải đặc biệt hoặc giải tám thì tỷ lệ cá cược được thua là 1/70 lần. Người chơi cũng có thể lựa chọn 01 hay nhiều con số bất kỳ có 02 con số để so sánh với 02 số cuối của giải đặc biệt và giải tám thì tỷ lệ cá cược được thua cũng là 1/70 lần (gọi là đánh đầu-cuối), nhưng người chơi phải bỏ ra số tiền trả cho chủ đề gấp đôi so với việc chỉ lựa chọn 02 số cuối của giải đặc biệt hoặc giải tám để cá cược.
Thứ hai người đánh lựa chọn 01 số hoặc nhiều con số bất kỳ có 03 con số để so sánh với 03 số cuối của giải đặc biệt hoặc giải bảy thì tỷ lệ cá cược được thua là 1/600 lần. Người chơi cũng có thể lựa chọn 01 số hoặc nhiều số bất kỳ có 03 con số để so sánh với 03 số cuối của giải đặc biệt và giải bảy thì tỷ lệ cá cược được thua cũng là 1/600 lần (gọi là đánh đầu, cuối), nhưng người chơi phải bỏ ra số tiền trả cho chủ đề gấp đôi so với việc chỉ lựa chọn 03 số cuối của giải đặc biệt hoặc giải bảy để cá cược.
Thứ ba là đánh bao lô 02 số, người đánh có thể lựa chọn 01 hay nhiều con số bất kỳ có 02 con số để so sánh với 02 số cuối của tất cả các giải thưởng từ giải đặc biệt đến giải tám thì tỷ lệ cá cược được thua là 1/70 lần nhưng số tiền người mua phải bỏ ra khi mua một số bao lô là 18.000 đồng. Có nghĩa là khi người chơi mua một con số bất kỳ để đánh bao lô 02 số thì phải bỏ ra 18.000 đồng, nếu trúng sẽ thắng được số tiền 70.000 đồng.
Thứ tư là kiểu đánh bao lô 03 số, người đánh có thể lựa chọn 01 hay nhiều con số bất kỳ có 03 con số để so sánh với 03 số cuối của các giải thưởng từ giải đặc biệt đến giải bảy thì tỷ lệ cá cược được thua là 1/600 lần nhưng số tiền người mua phải bỏ ra khi mua một số bao lô là 17.000 đồng. Có nghĩa là khi người chơi mua một con số bất kỳ để đánh bao lô 03 số thì phải bỏ ra 17.000 đồng nếu trúng sẽ thắng được số tiền 600.000 đồng
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’lấp bắt quả tang thu giữ trên người T 04 tờ phơi đề có số tiền T đã bỏ ra để tham gia cá cược như sau:
Tờ phơi thứ 01, T ghi số 55 bao lô với số tiền 10.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 180.000 đồng.
Tờ phơi thứ 02, T ghi các số 60 đầu cuối với số tiền 10.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 20.000 đồng; 52 đầu cuối với số tiền 10.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 20.000 đồng; 32 đầu cuối với số tiền 10.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 20.000 đồng; 69 đầu cuối với số tiền 12.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế Thư phải trả cho Đào Minh T là 24.000 đồng; 069 bao lô với số tiền 1.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 17.000 đồng; 560 bao lô với số tiền 1.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 17.000 đồng; 452 bao lô với số tiền 1.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 17.000 đồng. Tổng số tiền T dùng để đánh số đề và bao lô trong tờ phơi thứ 02 là: 135.000 đồng.
Tờ phơi thư 03, T ghi các số: 065 bao lô với số tiền 20.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 340.000 đồng; 165 bao lô với số tiền 30.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 510.000 đồng; 056 bao lô với số tiền 20.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 340.000 đồng; 156 bao lô với số tiền 30.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 510.000 đồng; 56 bao lô với số tiền 1000.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 1.800.000 đồng; 65 bao lô với số tiền 1000.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 1.800.000 đồng. Tổng số tiền T dùng để đánh số đề và bao lô trong tờ phơi thứ 03 là 5.300.000 đồng.
Tờ phơi thứ 04, T ghi các số: 86 đầu cuối với số tiền 12.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 24.000 đồng; 54 đầu cuối với số tiền 12.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 24.000 đồng; 68 đầu cuối với số tiền 12.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 24.000 đồng; 268 bao lô với số tiền 1.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 17.000 đồng; 83 bao lô với số tiền 10.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 180.000 đồng; 183 bao lô với số tiền 1.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 17.000 đồng; 07 bao lô với số tiền 5.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 90.000 đồng; 29 bao lô với số tiền 5.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 90.000 đồng; 46 bao lô với số tiền 5.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 90.000 đồng; 46 đầu cuối với số tiền 6.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 12.000 đồng; 346 bao lô với số tiền 1.000 đồng, có nghĩa số tiền thực tế T phải trả cho Đào Minh T là 17.000 đồng. Tổng số tiền T dùng để đánh số đề và bao lô trong tờ phơi thứ 04 là 585.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền T dùng để đánh bạc dưới hình thức ghi số đề, số bao lô với Đào Minh T ngày 15/4/2009 là 6.200.000 đồng (sáu triệu hai trăm nghìn)
Tại bản cáo trạng số 06/CT- VKS-ĐL ngày 10 tháng 01 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp để xét xử bị can Lý Nguyễn Hoàng Anh T về tội “Đánh"bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt:
Bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng
Về vật chứng vụ án: Đã được giải quyết tại Bản án số 45/2009/HSST, ngày 12 tháng 11 năm 2009 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đắk R’lấp, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 15/4/2009 tại nhà Đào Minh T, ở thôn 5, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ, bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức ghi số đề với Đào Minh T. Số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc với Đào Minh T là 6.200.000 đồng.
Do đó, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T phạm tội “Đánh"bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999 như kết luận của kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần xử lý nghiêm.
. Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
Bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã cố tình trốn tránh và bị truy nã hai lần nên cần cách ly bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân biết chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung tội phạm.
. Về vật chứng vụ án:" Đã được giải quyết tại Bản án số 45/2009/HSST, ngày 12 tháng 11 năm 2009 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp nên không đề cập giải quyết.
. Đối với hành vi đánh bạc của Đào Minh T đã được giải quyết tại Bản án số 45/2009/HSST, ngày 12 tháng 11 năm 2009 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp nên không đề cập giải quyết.
. Xét quan điểm và đường lối xử lý của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, tuy nhiên Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là chưa tương xứng với tích chất, mức độ hành vi của bị cáo. Trong vụ án này bị cáo cố tình trốn tránh và bị truy nã hai lần nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo được mục đích của hình phạt.
. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999:
Xử phạt bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T 03 (ba) tháng tù, về tội “Đánh bạc” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp duïng Ñieàu 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 20, Điều 21, Điều 22 Phaùp leänh aùn phí, leä phí toaø aùn: Buộc bị cáo Lý Nguyễn Hoàng Anh T phải nộp 200.000đồng (Hai"trăm"nghìn"đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -"TAND"tỉnh"Đắk"Nông; -"Sở"Tư"pháp"tỉnh"Đắk"Nông;"""""""""""""""""""""""""""""""""""" -"VKSND"H."Đắk"R’Lấp;" -"Chi"cục"THADS"H."Đắk"R’Lấp;" -"CA"H."Đắk"R’Lấp;" -"Bị"cáo;" -"Lưu"HS,"VP | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hồng" |