vanban.org

Bản án 10/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 21/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN VAN L - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HS-PT
Ngày 22/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giáp Bá Dự

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình và ông Đỗ Văn Hiên

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú Biển – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 130/2018/HS-PT ngày 17 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư P, tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn L; Sinh năm 1962 tại huyện N, tỉnh Quảng Nam;

Nơi ĐKHKTT và Chỗ ở: Thôn Ia R, xã Ia T, huyện Chư S, tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh L và bà Nguyễn Thị T; vợ: Phạm Thị H , sinh năm 1969 và 04 người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn L, không có giấy phép lái xe. Vào khoảng 06 giờ 15 phút, ngày 03/01/2018, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô BKS: 81T4 – 6103 loại xe 132cm3 đi đến nhà chị Đào Thị Th, chở chị Th đi trên đường Hồ Chí Minh theo hướng tp. Pleiku đi huyện Chư S mục đích đến chùa Mỹ Thạnh tại thị trấn Chư S. Khi đến Km 1616m, đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn Phú V, xã Ia B, huyện Chư P, tỉnh Gia Lai; Nguyễn Văn L điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 50km/h và đi về bên phải đường theo đường đi của mình thì phát hiện phía trước cách xe của L khoảng 10 đến 15m thấy bà Mai Thị M đang đi bộ bên phải đường băng qua bên trái đường theo hướng xe mô tô của Nguyễn Văn L. Lúc này, Nguyễn Văn L vẫn giữ nguyên tốc độ, bóp còi xe báo hiệu, và điều khiển xe sang bên trái để tránh nhưng không kịp nên xe mô tô đã tông vào bà M bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai điều trị. Do vết thương quá nặng đến ngày 06/01/2018 thì bà M tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 09/TT-TTPY ngày 31/1/2018 của Trung tâm giáp y tỉnh Gia Lai kết luận nguyên nhân chết của bà Mai Thị M do: chấn thương sọ não kín do tai nạn giao thông.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sơ sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư P, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L: 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ khi bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.

3. Kháng cáo của bị cáo: Trong hạn luật định, bị cáo Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn L đều giữ nguyên nội dung kháng cáo và không cung cấp chứng cứ gì.

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì , xin HĐXX xem xét giảm nhe ̣ hinh

̀ phạt và cho bi ̣ cáo hưởng án treo để bị cáo sớm về hòa nhập với cộng đồng xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã điều khiển xe mô tô 81T4 – 6103 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định tông vào bà Mai Thị M, hậu quả bà M chết do “chấn thương sọ não kín”. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi cùng những tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng:

Trên đoạn đường bị cáo di chuyển có 2 biển báo nguy hiểm liên tiếp, giao nhau với đường không ưu tiên và người đi bộ cắt ngang vạch liền nét màu trắng, lẽ ra khi điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ bị cáo phải tuân thủ nghiêm các quy định của Luật giao thông đường bộ, chú ý quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ nhưng bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, đồng thời điều khiển xe với tốc độ cao, phát hiện có người đi bộ qua đường bị cáo vẫn cố vượt dẫn đến vụ tai nạn xảy ra làm bà M chết, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Trong vụ án, bị cáo đã phạm tội với khung hình phạt từ 3 năm đến 10 năm, nhưng Tòa cấp sơ thẩm đã vận dụng chính sách khoan hồng của pháp luật áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự chỉ xử phạt bị cáo 20 tháng tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả bị cáo gây ra. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới nên không có căn cứ giảm hình phạt cho bị cáo.

Về kháng cáo xin hưởng án treo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chính ý thức chấp hành pháp luật kém của bị cáo đã dẫn đến hậu quả chết người, gây đau thương mất mát cho cho gia đình bị hại và gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo. Mặc dù bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại và được phía bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tình tiết này đã được cấp sơ thẩm áp dụng để quyết định mức hình phạt nhẹ so với hậu quả bị cáo đã gây ra. Do đó không có căn cứ cho bị cáo hưởng án treo.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐI ̣NH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư P, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

1. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ khi bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.

Cỡ chữ